top of page
​AD

Bùi Tín Kể Chuyện 16 Tấn Vàng Của Việt Nam Cộng Hoà

Đây là chuyện rất cũ, nhưng do chế độ độc đảng luôn duy trì nhiều mảng tối, không công khai minh bạch, nên có nhiều vấn đề lịch sử cần làm rõ.


Ông Bùi Tín lúc sinh thời trong một lần đến thăm Bức tường tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ‘Vietnam Memorial’ ở Washington, Hoa Kỳ. Ảnh: Catherine Karnow

Chuyện này xảy ra đã gần 50 năm. Từ đầu năm 2012 Bùi Tín nhận được 6 điện thư từ trong nước, từ Canada và Cộng hòa Liên bang Đức hỏi về chuyện này.


Trưa 30/4/1975, trong phòng lớn của Dinh Độc lập, sau khi Bùi Tín gặp và hỏi chuyện tướng Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu, không khí dần dần bình thản. Ông Nguyễn Văn Hảo ghé tới nói nhỏ với giọng miền Nam: “Thưa tôi là Nguyễn Văn Hảo, phó thủ tướng đặc trách về kinh tế - tài chính, có chuyện cần trình bày riêng với các ông.”



Ông Tín cùng ông Hảo đến ngồi bên chiếc bàn nhỏ gần cửa sổ. Vừa ngồi xuống, ông Hảo nói ngay: “Chúng tôi vừa trao đổi với nhau, muốn nhờ ông báo ra ngoài đó là bọn này đã giữ lại hơn 16 tấn vàng không để họ mang đi, hiện để trong ngân khố, mong ngoài đó cho người vô nhận.”


Bùi Tín hỏi lại: “Ông nói sao? 16 tấn vàng trong ngân khố? Có thiệt không?”


Bùi Tín ghi vội vài chữ trên sổ tay: “Ng. v Hảo, 16 tấn, ngân khố…”, và nghe ông Hảo trả lời: “Thiệt chớ, bọn này chịu hoàn toàn trách nhiệm mà.”



Ông còn nói thêm: “Nếu các ông gửi (ông dùng tiếng Pháp “placer”) ở các ngân hàng quốc tế lớn thì sau sẽ có thể thành 18 tấn, 20 tấn. Nếu cần, bọn này sẽ giúp.”


Tối hôm đó Bùi Tín đi trên chiếc xe jeep của đơn vị thông tin Quân đoàn II khi được biết họ sắp vào sân bay Tân Sơn Nhất để bắt liên lạc với phái đoàn ta trong Ban Liên hợp Quân sự bốn bên (về sau là Ban Liên hợp Quân sự hai bên) lập ra từ sau Hiệp định Paris tháng 1/1973.


Bùi Tín đã từng ở đó 60 ngày trong một khu gọi là trại Davis. Ông Tín hướng dẫn Thiếu úy Hà lái xe vì ông Tín đã hàng chục lần đi con đường này hồi 1973, và đã nghiên cứu rất kỹ bản đồ Sài Gòn mấy ngày đó. Ông Tín vào trại Davis như về nhà. Thiếu tướng Võ Đông Giang và Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn vẫn ở đó. Chào hỏi xong ông Tín vội xuống trạm thông tin, vẫn là tổ thông tin hơn 2 năm trước.



Dạo ấy các đồng chí vẫn đánh bài viết của Bùi Tín cho báo Quân đội Nhân dân. Chiều nay sau khi viết bài báo xong, ông rất băn khoăn vì các nhà báo Pháp, Ý, Đức đều cho ông biết là bưu điện Sài Gòn đóng cửa 2 ngày rồi. Điện thoại viễn liên bị cắt đứt. Họ đang bế tắc không sao gửi bài đi được. Ông Tín cũng sốt ruột không kém vì gửi bài báo ngay đêm nay để sáng mai bài báo được in trên báo Quân đội Nhân dân là một yêu cầu cấp bách.


Thượng sỹ thông tin trẻ măng người Thái Bình tên là Hải đánh bài báo của ông Tín bằng tín hiệu Morse, tè tè tích tích. Bài báo gửi cho Thiếu tướng Lê Quang Đạo, phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, để chuyển cho báo Quân đội Nhân dân. Ngay sau bài báo là mấy dòng chữ: “Gửi riêng Thủ trưởng Tổng Cục Chính trị - Tuyệt mật. Hôm nay 30/4/1975 Phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo đặc trách kinh tế - tài chính báo tin cho tôi là đã giữ lại trong ngân khố hơn 16 tấn vàng, mong ta cho người vào nhận. Bùi Tín.”


Sau đó Bùi Tín mới thong thả gặp gỡ các đồng chí trong trại Davis, cùng ăn một nồi cháo gà tuyệt trần sau một ngày cực kỳ căng thẳng, mệt nhọc.



Bài báo đăng trên báo Quân đội Nhân dân sáng ngày 1/5/1975 là bài báo duy nhất gửi được từ Sài Gòn vì hồi đó chưa có điện thoại cầm tay, chưa có máy điện toán xách tay như hiện nay. Máy fax rất nặng nề.


Do bài báo được chuyển bằng tín hiệu Morse tè tè tích tích, nên có 2 chữ ghi sai. Đó là khi ông Tín nói về thực đơn của Tổng thống Thiệu ngày 30/4 được in trên giấy đặt trên bàn làm việc của ông có 2 món là “cá thu kho mía” và “gân bò hầm sâm”, một món của cao lâu Tàu được gọi là “ngầu pín”, đã bị ghi sai thành “cá thu kho giá” và “gan bò hầm sâm”. Nhiều người thắc mắc cá thu kho giá và gan bò hầm sâm thì có gì ngon và bổ. Người đánh và nhận Morse đã nhầm chữ “g” (tè-tè-tích) thành chữ “m” (tè-tè) và chữ “â” thành “a”.


Ít lâu sau đó, Bùi Tín đọc trên cuốn ‘A Decent Interval’ (Khoảng cách vừa phải) của Frank Snepp, một cán bộ CIA ở Sài Gòn trước đó, nói rằng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã mang đi hàng chục tấn tài sản quý sang Đài Loan, nơi có anh ông là đại sứ Nguyễn Văn Kiểu, để đưa sang Hoa Kỳ sau đó.



Tất cả các báo chính thức ở Hà Nội hồi đó đều trích đăng cuốn sách của Frank Snepp, đoạn nói về việc ông Thiệu chở tài sản quốc gia trong đó có hơn 10 tấn vàng trong ngân khố ra khỏi nước, và ai cũng đinh ninh là chuyện này là có thật.


Ở hải ngoại nhiều bài viết cho đến nay vẫn đinh ninh chuyện ông Thiệu mang đi 16 tấn vàng là có thật, lên án ông rất nặng nề là trong tình hình cực kỳ khẩn trương ông đã chỉ lo vun vén cho cá nhân, lo chiếm đoạt tài sản công thành của riêng một cách tồi tệ.


Về phía chính quyền độc đảng ở trong nước, họ vẫn cố tình duy trì một tình hình ỡm ờ úp úp mở mở, không rõ ràng minh bạch về hơn 16 tấn vàng trong ngân khố Sài Gòn hồi ấy, với ý định không sạch sẽ là để cho mọi người hiểu lầm về chuyện này.



Năm 1994, khi Bùi Tín đã ở Paris, một bạn người Việt làm việc cơ quan nghiên cứu và lưu trữ về chiến tranh Việt Nam ở Lubbock, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, cho ông Tín địa chỉ điện thoại của ông Nguyễn Văn Hảo.


Bùi Tín gọi ngay cho ông và từ đó có dịp nói chuyện về ngày 30/4/1975. Ông Hảo cho biết ông đang ở Port-au–Prince, thủ đô nước cộng hòa Haiti, trong vùng Antilles - Caribbean, làm cố vấn kinh tế cho chính phủ Haiti. Ông cũng được biết đầu tháng 5/1975 ngoài Hà Nội đã cho riêng 1 chuyến chuyên cơ vào tiếp nhận hơn 16 tấn vàng và chở ra Hà Nội.


Đầu tháng 5/1975, Bùi Tín cũng được Thượng tướng Đào Đình Luyện, chỉ huy không quân, cho biết nguyên một chuyến chuyên cơ Ilyushin Il-18 đã chở số vàng thu được từ Sài Gòn ra Hà Nội.



Ông Hảo kể lại chuyện này: “Hồi đó, ông Vũ Văn Mẫu đề xuất với tướng Dương Văn Minh rồi giao cho tôi (ông Hảo) mật báo cho đại diện của các ông, sau khi được báo là một sỹ quan cao cấp vào gặp bọn này.”


Ông Hảo nói thêm: “Các ổng muốn các ông hiểu rõ là bọn này đã cố giữ lại không cho họ mang đi để giữ lại tài sản quốc gia đặng giao lại cho quý ông.”


Ông Hảo còn cười vui: “Lẽ ra quý ông có một lời tiếp nhận và đánh giá công khai chuyện này cho đồng bào cả nước biết thì bọn này mới thật hài lòng.”



Lần sau gặp Nguyễn Văn Hảo trên điện thoại, ông Hảo cho ông Tín biết thêm: “Công bằng mà nói, đã có nhiều dự án chuyển hết số vàng trong ngân khố ra nước ngoài, qua các ngân hàng quốc tế, nhưng các cuộc thương lượng chưa ngả ngũ thì quý ông đã vô rồi. Anh em phụ trách Ngân khố quốc gia cũng tỏ rõ thái độ không để cho họ mang đi. Lẽ ra các ông nên có lời khen cho anh em đó vui lòng.”


Trong các phiên họp của chính phủ, của quốc hội sau 30/4/1975, không có một chi tiết nào về hơn 16 tấn vàng được chính quyền miền Nam chính thức giao lại. Nó có thật sự nhập kho Nhà Nước đầy đủ, và được dùng vào những việc gì? Không ai biết.


Đại biểu Quốc hội không ai hỏi, vì 90% đại biểu là đảng viên, số ngoài đảng còn bảo hoàng hơn nhà vua.



Tháng 4/2010, Bộ Quốc phòng Hà Nội có cuộc họp viết lại một cách chính thức diễn biến ngày 30/4/1975 ở Dinh Độc lập, họ không nhắc đến nhà báo Bùi Tín, coi như ông không hề có mặt ở Sài Gòn ngày hôm đó, cũng không hề nhắc đến chuyện hơn 16 tấn vàng, một chi tiết không nhỏ, nhưng họ không muốn nhắc đến nữa.


Năm 1987, khi có dịp gặp ông Trường Chinh ở Đà Lạt, Bùi Tín kể lại chuyện này, ông Chinh cho biết: “Tôi có biết chuyện này, nhưng hết sạch cả rồi, trong mấy năm khó khăn, cấu véo hết tấn này đến tấn khác, mua lương thực, nguyên liệu, nay còn gì nữa đâu!”


Đây là câu duy nhất Bùi Tín nghe được về số phận của hơn 16 tấn vàng năm 1975, từ miệng một nhà lãnh đạo.



Các phiên họp Quốc hội từ 1975 đến nay, không ai biết, cũng không ai hỏi, chiến lợi phẩm thu được ở miền Nam, số tiền hồi ấy bộ Công an có chủ trương bán bãi, bán tàu thuyền, thu vàng cho mỗi người lên tàu di tản - từ 3 lạng đến 6 lạng, có khi lên đến 12 lạng vàng mỗi đầu người - tất cả là bao nhiêu? Và tiền thu của người Hoa bị xua đuổi từ Cẩm Phả, Hòn Gai, Hải Phòng vào đến Vũng Tàu, Chợ Lớn, Cần Thơ... là bao nhiêu? Lại còn tiền của thu được qua các chiến dịch tiêu diệt công thương nghiệp tư nhân, cái gọi là diệt gian thương trên toàn miền Nam hồi đó, tiêu tan đi đâu cả rồi?


Trong Quốc hội có Ban Kinh tế - Tài chính, nhưng có ai được biết gì đâu, có ai dám hỏi gì đâu, cả một khối mờ ám cỡ quốc gia, do đồng nhất đảng với nhà nước, đảng với quốc gia, đảng với nhân dân, tuy ba mà một.


Lại còn trong chiến dịch gọi là giải phóng Campuchia khỏi diệt chủng của Khơ-me Đỏ cuối năm 1978 - đầu năm 1979, đơn vị đặc công và một sư đoàn của Quân đoàn IV được lệnh chiếm các cơ sở trong thủ đô Phnom Penh, đặc biệt là khu hoàng cung, tiền của, kho tàng, đồ cổ lớn nhỏ đã được thu về bao nhiêu? Mang về nước bao nhiêu? Ở đâu, có biên bản, thống kê gì không?



Bùi Tín được biết phần lớn là giao cho Ban Tài chính - Quản trị trung ương đảng, một cơ quan kinh tế - tài chính - thương nghiệp xuất nhập khẩu - sản xuất kinh doanh riêng của đảng, mà biên chế còn lớn hơn cả bộ Công thương và bộ Kế hoạch - Đầu tư cộng lại.


Chế độ hiện tại quan tâm đến tiền bạc, ngoại tệ, ngân khố, ngân hàng, hơn là cái gốc của nền kinh tế là sản xuất ra của cải với kỹ thuật cao, giá thấp. Họ quên chức năng cơ bản của nhà nước là phân phối, điều tiết phân phối lại thành quả phát triển cho toàn xã hội cùng hưởng.


Các bộ của chính phủ coi rất nhẹ việc quản lý về hành chính, chỉ chăm chú đến sân sau là các công ty kinh doanh để chia chác bổng lộc, mặc cho các chỉ thị thu rất hẹp lĩnh vực này.



Xin quan sát kỹ để thấy rằng ai dính đến tài chính, ngân hàng, ngân sách đều được thăng quan tiến chức nhanh nhất; Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, thuộc dòng họ Nguyễn Sinh ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trưởng thành từ Cục trưởng Cục Ngân sách, rồi thứ trưởng tài chính, bộ trưởng tài chính, rồi phó thủ tướng thường trực. Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh cũng từng là Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Tài chính. Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy cùng con trai Lê Đức Minh và cộng tác viên thân cận là Lương Ngọc Anh, đại tá tình báo công an bị Úc cáo buộc là người trung gian cầm tiền hối lộ cho các sếp lớn, đều là những nhân vật con cưng của chế độ, những công thần hàng đầu trong việc ngang nhiên phân phối lại tiền của của nhân dân đổ vào ngân sách riêng của Đảng.


Lúc này giới cầm quyền trong nước cần nhớ lại lời khuyên tâm huyết của ông Lý Quang Diệu mươi năm về trước là: “Khi sẽ có nhiều khoản tiền đầu tư lớn từ nước ngoài chảy vào, hãy giữ gìn cẩn thận, không để cho đồng tiền chỉ huy, ngự trị, làm chủ lương tâm viên chức, hãy rất cảnh giác với đồng tiền bẩn, đồng tiền phi pháp, nó sẽ phá hoại công cuộc phát triển.”


Cũng chính Cụ Lý - như một số người trong nước thân mật gọi - căn dặn cách phòng chống tham nhũng có hiệu quả là luật pháp, ngành tư pháp, tòa án phải rất nghiêm (để không ai dám tham vì sợ tù), lương viên chức tạm đủ sống (không cần tham nhũng), tuyên truyền giáo dục nêu gương các viên chức trong sạch sống thanh bạch, chỉ ra kẻ tham là kẻ cắp, kẻ cướp xấu xa ô nhục tàn phá rường cột của quốc gia (không ai nỡ tham nhũng vì sợ nhục).



Có thể nói tiền nong, vàng bạc, của cải trong chế độ độc đảng đã gây nên tham nhũng, bất công kinh khủng chưa từng có trong xã hội nước ta, tiền của vàng bạc phi pháp đã tha hóa giới cầm quyền ở mọi cấp, tàn phá Đảng Cộng sản Việt Nam từ gốc lên ngọn.


Hiện là thời kỳ đảng viên quan chức lao lên trước đi tiên phong để trở thành đại gia, đại điền chủ, đại trọc phú, đại tư bản đỏ, bỏ mặc nhân dân của mình nghèo đói ở phía sau, đến nỗi nhà Mác-xít Lữ Phương phải la trời rằng Đảng Cộng sản đã đi đầu trong xây dựng chủ nghĩa tư bản man rợ. Đó là thời kỳ các quan chức vứt hàng ngàn tỷ này đến hàng nghìn tỷ khác qua cửa sổ, chìm nghỉm dưới đáy biển, để mặc cho hệ thống y tế và giáo dục tàn tạ, bệ rạc.


Thời đại kim tiền của các nhà cầm quyền tỷ phú Ferdinand Marcos, Suharto, Park Chung Hy, Nicolae Ceaușescu, Ben Ali, Muammar Gaddafi, Hosni Mubarak… đã kết thúc bi thảm. Gương tày liếp cho những bầy sâu chói mắt vì ánh vàng.




Bùi Tín (29/12/1927 – 11/8/2018 ), bút danh: Thành Tín, từng là Phó Tổng biên tập của báo Nhân dân, đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông là con của Bùi Bằng Đoàn, nguyên Thượng thư Bộ Hình của triều đình Huế và Chủ tịch Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ông học trung học Lycée Khải Định ở Huế. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông trở thành người hoạt động chính trị về mặt báo chí. Sau đó ông gia nhập Việt Minh.

Ông đã chiến đấu trên hai mặt trận: cầm súng như một người lính (nhập ngũ năm 18 tuổi) và viết lách như một nhà báo (của Quân đội nhân dân Việt Nam (10/1964) và sau đó là Báo Nhân Dân (1972) với bút danh Thành Tín). Theo các tài liệu công bố tại Hoa Kỳ, Bùi Tín có tham gia hai sự kiện: phỏng vấn các tù nhân Hoa Kỳ và buổi lấy lời khai của John McCain.

Trung tá Bùi Tín, thành viên trong Ban Liên hợp Quân sự 4 bên, nói chuyện với quân nhân chuyên nghiệp Hoa Kỳ Richard Springman, bị bắt ngày 25/5/1970), một trong 28 tù binh Mỹ được trả tự do vào ngày 12/2/1973.

Bùi Tín đã có mặt ở dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 với tư cách phóng viên chiến trường. Sau chiến tranh, ông giải ngũ, tiếp tục viết báo, làm đến Phó Tổng biên tập báo Nhân dân, kiêm Tổng Biên tập tuần báo Nhân dân Chủ Nhật.

Năm 1990, ông sang Pháp công tác dự hội hàng năm của báo L'Humanité (Nhân Đạo, báo của Đảng Cộng sản Pháp), rồi quyết định không về nước mà đào nhiệm, xin tị nạn tại Pháp, với lý do là để “đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền” theo cách của ông và ở đó đến khi qua đời tại Paris.

Comments


Không bao giờ bỏ lỡ bản tin mới

Đăng ký nhận thư từ Ngoài Kia

Cảm ơn bạn. Chúng tôi sẽ liên hệ sớm.

bottom of page