top of page
​AD

Nguồn Gốc Dân Tộc Kinh ở Trung Quốc: Kinh Tộc Tam Đảo

Người Kinh ở Trung Quốc có thể được coi là người Kinh cổ đã trải qua những thay đổi trong ngôn ngữ và hệ thống chữ viết nguyên thủy.

Ngư dân dân tộc Kinh đang kéo lưới đánh cá trên bãi biển ở Đông Hưng, Trung Quốc, ngày: 11/11/2008. Ảnh: Imago

Dân tộc Kinh còn gọi là người Việt Nam, người An Nam, là một trong những dân tộc thiểu số nhỏ nhất ở Trung Quốc và là dân tộc lớn nhất ở Việt Nam.


Trong lịch sử, người Kinh tự gọi mình là người Việt. Theo báo cáo năm 2014, 85,7% tổng dân số Việt Nam là người Kinh nên nói rộng ra thì người Kinh có thể coi là người Việt.



Người Kinh còn được gọi là người Yue ở Trung Quốc. Tuy nhiên, người Yue có thể bị trùng với dân tộc Baiyue (Bách Việt) từng định cư và sinh sống ở tại vùng đất phía Nam Trường Giang ước tính vào khoảng những năm 1200 TCN, chiếu theo lãnh thổ nhà Hán thì hiện bao trọn miền Nam Trung Quốc và Đồng bằng sông Hồng của Bắc Bộ Việt Nam.


Năm 1958, theo văn bản của Chính phủ Nhân dân Trung ương nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 17/4/2006, dân tộc Yue mong muốn đổi tên và được sự chấp thuận của Quốc vụ viện Trung Quốc, chính thức có tên là dân tộc “Kinh”.


Tổ tiên của người Kinh Tam Đảo có nguồn gốc từ huyện Đồ Sơn thuộc thành phố Hải Phòng, Việt Nam. Họ đến Kinh Đảo không có người ở vào khoảng năm 1511, sống chủ yếu trên ba hòn đảo Vạn Vĩ, Vu Đầu và Sơn Tâm ở thành phố Đông Hưng thuộc tỉnh Quảng Tây, cạnh biên giới với Việt Nam.



Truyền thuyết của người Kinh kể rằng có một con rết khổng lồ sống ở biển thường xuyên lao ra ăn thịt ngư dân của họ. Một ngày nọ, con rết khổng lồ định gặm chiếc thuyền của một gia đình ngư dân nhưng lũ trẻ đã ném quả bí ngô còn nóng hổi đang sôi xuống biển để làm thức ăn. Con rết khổng lồ bị bỏng chết sau khi ăn bí ngô và cơ thể nó bị vỡ thành ba mảnh, đầu của nó trở thành đảo Vu Đầu, thân thành đảo Sơn Tâm, đuôi thành đảo Vạn Vĩ.


Truyền thuyết này tượng trưng cho sự di cư của tổ tiên người Kinh đến ba hòn đảo. Con rết khổng lồ là những con sóng khổng lồ làm lật úp tàu của tổ tiên họ khi họ đi đánh cá gần các hòn đảo. Sau khi thuyền bị lật, họ định cư trên các hòn đảo ở đó.



Không rõ Việt Nam bắt đầu quản lý quần đảo này từ khi nào nhưng trong thời nhà Minh và đầu nhà Thanh, ba hòn đảo này được biết là thuộc quyền cai trị của Việt Nam.



Năm 1885, đại thần triều đình nhà Thanh Lý Hồng Chương đã lấy lại các đảo từ tay người Pháp cai trị Việt Nam thông qua Hiệp ước Tianjin.


Lý Hồng Chương (giữa) với quan chức Pháp Lord Salisbury (trái) và Lord Curzon.

Ngoài việc đón Tết Nguyên đán tức Tết như người Kinh ở Việt Nam, người Kinh ở Trung Quốc còn tổ chức lễ hội Hạ. Lễ hội bắt đầu vào ngày 9 tháng 6 âm lịch với nhiều hoạt động như rước thần biển và ca hát.



Người Kinh có nhạc cụ độc đáo của riêng họ, đàn cầm một dây. Nó từng là nhạc cụ cung đình vào thời nhà Ân và nhà Thương, nhưng giai điệu dễ khiến người ta cảm thấy buồn bã nên nó đã bị bỏ qua trong một thời gian dài, cho đến khi nó lan truyền đến người Kinh. Nó là một loại nhạc cụ được biểu diễn trong các lễ hội lớn của dân tộc Kinh. Năm 2010, đàn Bầu đã được đề nghị UNESCO đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể.




Người Kinh ở Trung Quốc chơi nhạc cụ truyền thống ở bãi biển trong lễ hội Hạ.

Theo truyền thống, phần lớn người Kinh là ngư dân, vừa đánh cá nước ngọt trên sông nội địa vừa đánh cá nước mặn ven biển. Họ đã phát triển một phương pháp đánh cá độc đáo bằng cách đi cà kheo trên cao.


Do hoạt động cải tạo đất trên biển của Trung Quốc trong thế kỷ 20, Tam Đảo đã trở thành một bán đảo nối liền với lục địa Trung Quốc. Những vùng đất bổ sung này cung cấp cho người Kinh sinh kế trồng trọt bên cạnh sinh kế đánh cá truyền thống của họ.


Người Kinh câu cá trên cà kheo cao.

Theo truyền thuyết của người Kinh, người Kinh là hậu duệ của thần long Lạc Long Quân và nàng tiên Âu Cơ. Hai người này đã cùng nhau sinh ra một túi chứa 100 quả trứng và 100 đứa con. Họ là tổ tiên của người Bách Việt. Những người con sinh ra trong cùng một gia đình nên được gọi là anh em “cùng bọc”, hay còn gọi là đồng hương. Cách người Kinh nói chuyện ở Việt Nam giống như dân tộc Bách Việt mà mọi người Việt đều có nguồn gốc chung.


Tín ngưỡng tôn giáo của người Kinh ở Trung Quốc là đa thần, bao gồm Đạo giáo và Phật giáo, một số người cũng tin vào Công giáo.


Trang phục của người Kinh ở Trung Quốc có nguồn gốc giống như áo dài của Việt Nam, vải mỏng thanh lịch, dễ chịu và ít nhiều liên quan đến biển.





Người Kinh ở Trung Quốc nói một thứ tiếng khác với cả tiếng Quảng Đông và tiếng Việt. Một số nhà ngôn ngữ học xếp nó thuộc phân nhóm ngôn ngữ Trung Quốc Yue.



Tuy nhiên, thế hệ người Kinh hiện tại có xu hướng nói cả tiếng Quan Thoại và tiếng Việt.


Chữ Nôm dường như là chữ Hán trước khi sáp nhập với ngôn ngữ Mường nguyên thủy để hình thành tiếng Việt hiện đại ngày nay. Vì ba đảo của người Kinh vẫn còn nằm dưới sự cai trị của Việt Nam cho đến năm 1885 nên ngôn ngữ của họ chịu ảnh hưởng của tiếng Việt chuẩn.


Phần lớn từ vựng trong tiếng Hán vẫn còn được bảo tồn trong các từ của tiếng Việt hiện đại.


Hơn nữa, người Kinh vẫn sử dụng chữ Nôm mà tổ tiên họ từng viết ở Việt Nam trong khi người Kinh ở Việt Nam chuyển sang chữ Latinh sau Thế chiến thứ nhất.



Các chữ Hán Nôm truyền thống tại chùa người Kinh.

Người Kinh ở Trung Quốc có thể được coi là người Kinh cổ sau khi trải qua những thay đổi trong ngôn ngữ và hệ thống chữ viết nguyên thủy. Điều này là do vị trí biệt lập của các hòn đảo cách xa các trung tâm văn hóa của cả người Kinh ở Việt Nam và người Hán ở Quảng Đông và Quảng Tây.



Comments


bottom of page