top of page
​AD

Nguồn gốc tên "Lệ chi" và tên "Vải"

Vải thiều, có nguồn gốc ở Đông Nam Á, hiện nay đã phát triển từ một món ăn ngon của địa phương thành một loại cây thu được nhiều lợi nhuận trên thế giới với các trang trại trên khắp vùng cận nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ.

Trái vải. Ảnh: Kim Kuperkova


Vải thiều có tầm quan trọng địa phương đối với nhiều khu vực trong và xung quanh châu Á, đặc biệt là một số khu vực của Ấn Độ và Trung Quốc. Văn hóa Quảng Đông đặc biệt được ghi nhận trong việc sử dụng vải thiều từ thời cổ đại trong đồ ăn, thức uống và thậm chí là một số loại thuốc.


Đáng chú ý và được trồng rộng rãi nhất ở Trung Quốc và Ấn Độ, những ghi chép sớm nhất về việc trồng vải thiều có từ thế kỷ 11 ở các vùng phía nam của Trung Quốc, Malaysia và các vùng phía bắc của Việt Nam. Một số nhà sử học tin rằng các ghi chép không chính thức đề cập đến vải thiều từ 2.000 năm trước, đến thời nhà Hán.



Sự xuất hiện đầu tiên được ghi nhận của vải thiều ở thế giới phương Tây là thông qua các tuyến đường thương mại ở Jamaica vào năm 1775, và trường hợp đầu tiên của việc trồng vải thiều thành công ở Hoa Kỳ xảy ra vào đầu những năm 1900 ở Florida, nơi quả đã trở thành một loại cây thương mại quan trọng.


Vải thiều phát triển mạnh trong môi trường gần xích đạo và có vị ngọt như đu đủ, chanh dây và xoài mà nó có chung khí hậu và cận nhiệt đới. Mặc dù cây mọc hoang ở các vùng phía nam châu Á, nhưng ở các vùng khí hậu khác, việc trồng vải thiều rất thuận lợi và đã thành công. Ngoài bang Florida nói trên, những người trồng vải thiều đã thành công ở Địa Trung Hải, Nam Phi và Hawaii, mặc dù ở mức độ thấp hơn những người trồng vải ở Trung Quốc và Ấn Độ.


Ngoài ra còn có khá nhiều chủng loại vải thiều; mỗi loại đều có những đặc trưng riêng, nhưng tất cả vẫn ngọt và ngon. Một số giống vải thiều phổ biến hơn, một số có nhiều thịt hơn và lỗ nhỏ hơn, một số lớn hơn đáng kể, một số có hương vị đậm đặc hơn, một số thích hợp hơn để nấu ăn và một số khác để uống. Giả sử bạn ở vùng có điều kiện thích hợp, bạn thậm chí có thể mua cây vải về và tự trồng.


Vải chín tại Fort Myers River District Farmers Market, Florida. Ảnh: Pine Island Botanicals/Facebook



Về mặt dinh dưỡng, vải thực sự cung cấp nhiều lợi ích sức khỏe tương tự như các loại trái cây như dâu tây và quả việt quất. Khẩu phần trái cây và rau quả hàng ngày đã được chứng minh là làm giảm đáng kể nguy cơ tử vong do các vấn đề sức khỏe khác nhau, có nghĩa là ăn vải thiều không chỉ là một món ăn ngon mà còn có thể chứng minh một chiến lược sinh tồn. Vải có nhiều chất chống oxy hóa và vitamin C - những chất dinh dưỡng cần thiết cho một cơ thể khỏe mạnh.


Quả vải thiều (hoặc cùi) có thể ngon nhưng không nên ăn hạt hoặc quả vải vì chúng chứa một số hợp chất hóa học với liều lượng lớn và trong cơ thể không khỏe mạnh có thể gây hại. Một nghiên cứu năm 2014, được công bố trên tạp chí The Lancet, đã liên kết việc tiêu thụ một lượng lớn vải thiều ở trẻ em suy dinh dưỡng ở Ấn Độ và Việt Nam với bệnh não, dẫn đến các triệu chứng như co giật và mất một số chức năng não. Điều đáng chú ý là đây là những trường hợp thích hợp ở trẻ em suy dinh dưỡng và việc tiêu thụ vải thiều bình thường ở trẻ em khỏe mạnh và người lớn là hoàn toàn an toàn.


Lệ Chi


Có phải "Lệ Chi" 荔枝 vốn phải đọc là Li Chi 離支, mang nghĩa "lìa cành". Do quả này phải hái cả cành nên mới có tên đó.


Thật ra cả 荔枝 lẫn 離支 đều có thể được phát âm là Li Chi hoặc Lệ Chi đều đúng. Bởi vì cả 荔 lẫn 離 đều có 2 âm là Lệ hoặc Ly.



Như vậy, phát âm thế nào có lẽ tuỳ vùng và tuỳ thời điểm. Phát âm Lệ Chi phổ biến hơn trong Hán Việt, có lẽ ngày xưa 離支 cũng được phát âm là Lệ Chi, chứ không phải là Li Chi.


Các nhà Hán ngữ học có vẻ theo luận điểm âm gốc là "lệ" thay vì "li" bởi họ luôn dựng âm Hán cổ của từ này với tận cùng -s, tức sẽ cho ra thanh trắc (lệ) thay vì thanh bằng (ly)


Nhà Hán học Zhengzhang dựng âm Hán cổ của 離支 là /*rels kje/


Sagart và Baxter dựng âm Hán cổ của 離支 là /*raj-s ke/


Một lần nữa, âm -s ở cuối sẽ cho ra thanh trắc (lệ) thay vì thanh bằng (ly).


Như vậy, kết luận rằng từ này vốn phải đọc là Li Chi mới đúng thì chưa có cơ sở.


Câu chuyện "lìa cành" có thể là do các nho sĩ xưa cố giải thích từ Lệ Chi.


Thực chất quả vải có gốc từ phương Nam, luôn được biết đến trong triều đình Hán là một cống phẩm quý. Nhu cầu tiêu thụ vải cao đến độ triều đình có thể cử một đoàn xe ngựa nhanh chỉ để chuyên chở vải tươi từ phương Nam đến triều đình.


Nếu đây là một loại quả ngoại nhập, tên của nó có phải cũng ngoại nhập?


Mình vừa phát hiện ra rằng người Kra gọi quả vải là "mji ke". Trong đó mji là quả, ke là tên của loài quả.


Từ ke trong tiếng Kra khá giống âm Hán cổ của 支 /*ke/ hoặc /*kje/


Như vậy hoàn toàn có khả năng người Hán mượn tên cho từ này từ một ngôn ngữ Kradai nào đó. *rels hoặc *raj-s (> lệ) hoàn toàn có thể là từ chỉ quả hoặc cây trong ngôn ngữ Kradai này và *ke hoặc *kje là tên quả trong tiếng Kradai.


Người Tày ở Việt Nam ngày nay có 2 từ để chỉ quả vải. Mak tci để chỉ quả vải rừng (có vị chua) và mak pai để chỉ quả vải trồng (có vị ngọt). Từ pai hẳn có cùng gốc với từ vải. Còn từ tci rất giống âm thứ 2 của lệ chi, hẳn có cùng gốc.


Tựu chung lại, rất có khả năng lệ chi 離支 xuất phát từ tên gọi của một loại quả trong các ngôn ngữ Kradai vùng Lưỡng Quảng, được vay sang tiếng Hán. Sau này các nho sĩ Hán lại dùng truyền thuyết lìa cành để giải thích cho tên loại quả này.



Vải


Có bạn viết rằng chữ vải trong quả vải tiếng Kinh xuất phát từ chữ 布 (HV: bố), có nghĩa là vải may mặc. Bạn này giải thích rằng vì vỏ của quả vải nham nhám như tấm vải nên gọi là quả vải.


Riêng mình thì thấy giải thích đó hơi gượng ép.


Bản thân chữ 布 (HV: bố) được cho là vay từ tiếng Nam Á ở vùng tây nam, hay được viết trong cụm 幏布 (HV: giá bố, Hán cổ: *kra pa:s), thể hiện tiền âm k-, tương ứng với Proto-Vietic *k-paːs, Proto-Nam Á *kpaas.


Chữ vải trong vải may mặc tiếng Kinh có gốc từ Proto-Vietic *k-paːs. Tiền âm k- khiến cho âm p- bị sát hoá thành âm v- trong tiếng Kinh. Trong tiếng Mường, âm k- bị mất, để lại pai.


Chữ vải trong quả vải giống với Proto-Katuic *kpias. Mối liên hệ giữa vải may và vải ăn cần thêm thông tin để kiểm chứng. Nó hoàn toàn có thể là giống nhau ngẩu nhiên, như đường ăn và đường đi, vốn là từ đồng âm khác nghĩa.



Tác giả: Trần Thanh Trúc, John J. Lee

Comments


bottom of page