Trịnh Hòa: Đô Đốc Chỉ Huy Hạm Đội Trung Hoa Lớn Nhất Thế Kỷ 15
- Hồ Tri Thức

- 23 thg 1
- 11 phút đọc
Đã cập nhật: 4 ngày trước
Hạm đội kho báu nhà Minh đã đi xa hơn và sớm hơn châu Âu thậm chí cả thế kỷ.

TRỊNH HÒA, tên khai sinh Mã Hòa (馬和), sinh năm 1371 tại Vân Nam, một vùng biên viễn phía tây nam Trung Hoa, nơi giao thoa giữa văn hóa Hán, Hồi giáo và các dân tộc thiểu số. Gia đình ông là người Hồi, tổ tiên có nguồn gốc Trung Á, nhiều khả năng là hậu duệ các cộng đồng Hồi giáo di cư vào Trung Hoa từ thời Nguyên.
Ngay từ khi sinh ra, Mã Hòa đã lớn lên trong một không gian văn hóa nơi thế giới Hồi giáo, Trung Hoa và Con đường Tơ lụa gặp nhau. Cha và ông nội của Mã Hòa đều mang danh hiệu “Haji” — cho thấy họ từng hành hương đến Mecca.
Năm 1381, khi Mã Hòa khoảng 11 tuổi, quân Minh tiến hành chinh phạt Vân Nam, tiêu diệt tàn dư của nhà Nguyên. Trong cuộc chiến này, cha của Mã Hòa bị giết. Cậu bé bị bắt làm tù binh, sau đó bị thiến, trở thành hoạn quan.
Mã Hòa được đưa về kinh đô, rồi phân về phục vụ Chu Đệ, khi ấy còn là Yên vương, đóng quân ở Bắc Bình (Bắc Kinh ngày nay). Tại đây, cậu bé hoạn quan bộc lộ tư duy chiến lược, khả năng ngoại giao và trí nhớ tốt. Những phẩm chất này cùng với sự trung thành tuyệt đối khiến ông nhanh chóng trở thành tâm phúc của Chu Đệ.
Khi Chu Đệ phát động Tĩnh Nan chi biến (1399 - 1402) để cướp ngôi cháu mình, Mã Hòa tham gia trực tiếp vào các chiến dịch quân sự, chỉ huy hậu cần và tình báo, và lập công trong những trận đánh then chốt.
Sau khi Chu Đệ lên ngôi, lấy niên hiệu Vĩnh Lạc, ông ban cho Mã Hòa họ “Trịnh” và tên “Hòa”, chính thức đổi thành Trịnh Hòa. Từ đây, Trịnh Hòa không còn là hoạn quan hầu cận, mà trở thành đại thái giám, tướng lĩnh thực thụ được giao quyền chỉ huy hạm đội.
Dù phục vụ triều đình Minh, Trịnh Hòa chưa bao giờ che giấu gốc gác Hồi giáo. Ông tài trợ xây dựng và trùng tu đền Hồi giáo, có bia ký nhắc đến Allah. Chính sự hiểu biết sâu về nghi thức ngoại giao xuyên văn hóa giúp ông giao tiếp hiệu quả với các vương triều Hồi giáo.
Những cuộc thám hiểm của Trịnh Hòa
Vào đầu thế kỷ 15, khi phần lớn châu Âu vẫn còn hình dung đại dương như một rìa vực đầy quái vật, thì từ các xưởng đóng tàu dọc Trường Giang, Trung Hoa, Minh Thành Tổ (Chu Đệ) đã cho hạ thủy những con thuyền lớn đến mức hôm nay vẫn còn gây tranh cãi.
Hạm đội của Trịnh Hòa bao gồm hàng trăm con tàu, hàng chục nghìn thủy thủ, binh lính, phiên dịch, thầy thuốc. Những “bảo thuyền” dài theo ước tính truyền thống lên đến hơn 100 mét, không giống bất kỳ thứ gì từng xuất hiện trên đại dương.
Theo các nguồn sử liệu Trung Hoa thì hạm đội của Trịnh Hòa gồm 30.000 người và có trên 300 thuyền buồm vào lúc cao điểm nhất.

Chuyến thám hiểm năm 1405 bao gồm 27.800 người và 317 thuyền.
Các thuyền châu báu | Được dùng cho chỉ huy và các phó chỉ huy của hạm đội, có chín cột buồm, dài khoảng 120 mét và rộng khoảng 50 mét. |
Các thuyền chở ngựa | Chở cống phẩm và vật liệu sửa chữa cho hạm đội, có tám cột buồm, dài khoảng 103 mét và rộng khoảng 42 mét. |
Các thuyền hậu cần | Chuyên chở lương thực và thực phẩm cho thủy thủ đoàn, có bảy cột buồm, dài khoảng 78 mét và rộng khoảng 35 mét. |
Các thuyền chở quân lính | Sáu cột buồm, dài khoảng 67 mét và rộng khoảng 25 mét. |
Các thuyền chiến Phú Xuyên | Năm cột buồm, dài khoảng 50 mét. |
Các thuyền tuần tra | Có tám mái chèo, dài khoảng 37 mét. |
Các thuyền chở nước | Để đảm bảo cấp nước ngọt trong vòng một tháng. |
Từ 1405 đến 1433, Trịnh Hòa chỉ huy bảy chuyến hải trình, dẫn đầu hạm đội khổng lồ đi qua Đông Nam Á, Ấn Độ, Ba Tư, Biển Đỏ, và cuối cùng chạm tới bờ biển Đông Phi (Somalia, Kenya ngày nay). Hươu cao cổ được đưa về Bắc Kinh như biểu tượng của “kỳ lân”. Các quốc vương địa phương quỳ gối trước sắc phong nhà Minh. Nhiệm vụ của ông không phải khám phá, mà là ngoại giao bằng đại dương, áp đặt trật tự Minh triều. Ông vừa là nhà hàng hải, vừa là tư lệnh viễn chinh, vừa là đại sứ cưỡng bức của đế chế.

Bản thân Trịnh Hòa viết về các chuyến đi của mình như sau:
“Chúng tôi đã vượt qua hơn 100.000 lý (50.000 km) các vùng nước mênh mông và ngắm nhìn thấy trên đại dương các con sóng khổng lồ tương tự như các trái núi sừng sững ở phía chân trời, và chúng tôi đã ngắm nhìn các khu vực hoang dã ẩn xa trong làn sương khói màu xanh lam, trong khi các con thuyền của chúng tôi, kiêu ngạo giương cánh buồm giống như các đám mây ngày và đêm, vẫn tiếp tục cuộc hành trình của chúng (rất nhanh) giống như các vì sao, vượt qua các con sóng hung dữ này như thể là chúng tôi đang đi trên một con đường lớn...”

Ngoại giao mang theo gươm giáo
Có một câu chuyện rất được ưa chuộng đó là Trịnh Hòa như biểu tượng của một Trung Hoa hòa bình, đối lập với những cuộc chinh phục tham lam và đẫm máu của châu Âu. Sự thật là nhà Minh không hề là một đế chế ôn hòa. Cũng như mọi đế chế khác trong lịch sử nhân loại, mục tiêu cốt lõi của họ là ổn định trong nước, bành trướng ra ngoài. Viễn chinh, đàn áp, thôn tính lãnh thổ nước ngoài gần như là hoạt động thường niên.
Danh sách các cuộc chinh phạt của nhà Minh trải dài khắp lục địa và vùng biên:
Chinh phục Vân Nam
Các chiến dịch liên tiếp chống Mông Cổ (dưới thời Minh Thành Tổ)
Chiến tranh Minh - Hồ (xâm lược Đại Việt)
Các chiến dịch Lư Xuyên - Bình Miện
Xung đột với Turpan, Uriankhai, Jianzhou
Giao tranh với các thế lực hàng hải châu Âu tại Bành Hồ và Formosa
Nhà Minh không thiếu máu trên tay, và tư duy văn hóa thời đó cũng không hề thuần hòa. Bạo lực là công cụ chính trị được chấp nhận, thậm chí được ca tụng.
Một ghi chép về tướng Trương Phụ (張輔) trong các chiến dịch phương Nam mô tả mức độ tàn khốc khiến người hiện đại phải rùng mình: xẻ bụng nạn nhân, treo nội tạng lên cây hoặc chế biến thành món thịt chiên, mổ bụng phụ nữ mang thai. Đây không phải ngôn từ tuyên truyền của đối thủ mà là ghi chép nội bộ.
Trịnh Hòa không hề xa lạ gì với bạo lực. Mỗi chuyến hải trình của Trịnh Hòa đều mang theo lực lượng quân sự khổng lồ. ‘Minh thực lục’ ghi rõ: “10.000 tinh binh từng được phái tới Tây Dương.” Không một đoàn thương thuyền vô hại nào cần tới 10.000 quân được vũ trang.
Minh Thành Tổ lên ngôi hoàng đế bằng đảo chính nên các chuyến đi của Trịnh Hòa là để chứng minh rằng Thiên mệnh đứng về phía ông. Mục tiêu của Trịnh Hòa rất rõ ràng, và chỉ xoay quanh năm mệnh lệnh:
Củng cố tính chính danh cho hoàng đế mới
Phô trương sức mạnh của Đại Minh
Ép các nước láng giềng phải sang triều cống
Thu vơ tài nguyên, châu báu
Đập tan mọi sự kháng cự
Nhìn tổng thể, các chuyến đi của Trịnh Hòa là chiến dịch quân sự trên biển nhằm áp đặt một trật tự gọi là “Thái Bình Trung Hoa” lên Đông Nam Á và Ấn Độ Dương. Những ai quỳ gối, dâng vàng bạc, châu báu, được phép tồn tại. Những ai chống cự, bị lật đổ, cướp bóc, hoặc xóa sổ. Điểm tốt đẹp duy nhất của thân phận chư hầu của Đại Minh là có thể sẽ được bảo vệ nếu bị kẻ khác tấn công, miễn là còn giá trị.

Java (1407)
Trịnh Hòa can thiệp thẳng vào nội chiến Java. Sau khi mất 170 binh sĩ, hạm đội Minh gửi tối hậu thư: “Lập tức nộp 60.000 lạng vàng để chuộc tội… nếu không, quân đội sẽ được phái tới trừng phạt. An Nam chính là tiền lệ.”
Đây không phải ngoại giao. Đây là bảo kê bằng đế chế.
Hsenwi, Miến Điện (1409)
Khi sứ giả Miến Điện dám phàn nàn về chính quyền bù nhìn do nhà Minh dựng lên, triều đình đáp trả: “Nếu không cải sửa, trẫm sẽ ra lệnh cho các tướng xuất quân. Thủy quân đánh từ biển, kỵ binh đánh từ đất liền.”
Thủy quân ở đây chính là hạm đội của Trịnh Hòa. Sự quy phục đạt được bằng đe dọa vũ lực không khác gì thất bại quân sự.
Sri Lanka (1411)
Trịnh Hòa “ghé thăm” Sri Lanka, rồi:
Tấn công kinh đô Gampola
Tiêu diệt quân đội bản địa
Bắt sống quốc vương Alakesvara cùng hoàng tộc
Áp giải về Trung Hoa
Dựng lên một chính quyền bù nhìn
Lý do? Nhà vua bị cho là vô lễ. Trong đế chế, bất kính là một tội đáng bị xóa sổ.
Dương Vinh (楊榮), một đại thần và học giả nhà Minh, khi viết về cuộc xâm lược Sri Lanka, đã mô tả chiến thắng như sau:
“Chúng ta càn quét hang ổ của chúng, Bắt cả quốc gia làm tù binh, Đưa đàn bà, trẻ con, gia quyến về kinh đô, Quét sạch chúng như sàng thóc bỏ trấu… Những con sâu bọ đáng chết vạn lần ấy Còn không xứng chịu sự trừng phạt của Trời.”
Đó là ngôn ngữ của đế chế, không phải của hòa bình. Trịnh Hòa — người từng đứng trên boong tàu nhìn ra đại dương mênh mông — chính là mũi giáo vươn xa nhất của đế chế đó, chứ không phải biểu tượng của một thế giới hiền hòa đã bị lịch sử bỏ quên.
Bắc Sumatra (1415)
Trịnh Hòa lại can thiệp vào nội chiến, ủng hộ phe ít thù địch với Minh. Khi thắng trận, ông bắt thủ lĩnh Suganla của Samudera cùng vợ con, đưa về Trung Hoa như chiến lợi phẩm chính trị.
Chính sách “hải cấm”
Bảo thuyền không phải thương thuyền. Chúng không mang hàng để bán hay thiết lập tuyến thương mại sinh lời, do đó không tạo ra lợi nhuận bền vững. Mọi thứ như vàng, châu báu, động vật lạ thu về đều là cống phẩm, mang tính nghi lễ nhiều hơn kinh tế. Trong khi đó, đóng và bảo dưỡng hàng trăm tàu cỡ lớn, nuôi hàng chục nghìn thủy thủ và binh lính kéo dài nhiều năm khiến chi phí trở nên khổng lồ.
Nhưng năm 1424, Minh Thành Tổ qua đời. Người kế vị, Minh Nhân Tông (niên hiệu Hồng Hi), kế thừa một ngân khố bị rút cạn bởi các chuyến đi của cha mình. Hồng Hi có một thế giới quan bảo thủ, Nho giáo chính thống, ưu tiên trật tự nông nghiệp – quan liêu và coi các chuyến hải trình là xa xỉ, phô trương, trái với đạo trị quốc. Chỉ trong một thời gian ngắn trị vì, Hồng Hi ra lệnh đình chỉ toàn bộ bảo thuyền.
Trung Hoa không cần gì từ Ấn Độ Dương. Nhà Minh có dân số khổng lồ và thủ công nghiệp lớn, có thể tự cung tự cấp lương thực, không phụ thuộc vào thương mại hàng hải để tồn tại. Vì vậy, dưới góc nhìn kinh tế, bảo thuyền là một khoản chi không hoàn vốn.
Trong khi hạm đội phô diễn sức mạnh ở phương Nam, thì mối đe dọa thực sự của nhà Minh luôn đến từ phương Bắc và Tây. Dưới thời Hồng Hi và Tuyên Đức, người Mông Cổ tái tổ chức, các bộ lạc Trung Á gia tăng cướp phá. Biên giới đất liền trở nên mong manh. Bảo vệ đất liền đòi hỏi kỵ binh, pháo đài, lương thảo, và nhân lực. Mỗi đồng tiền đổ ra biển là một đồng tiền không dùng để giữ biên cương. Đối với một đế chế lục địa, đất liền luôn quan trọng hơn đại dương.
Sau chuyến hải trình thứ bảy, triều đình Minh đột ngột đổi hướng. Lịch sử gọi đây là chính sách “hải cấm”. Trung Hoa đã từ bỏ thực hiện các chuyến du hành và thay vào đó là bắt tay vào việc củng cố và mở rộng Vạn Lý Trường Thành vô cùng tốn kém. Trong hoàn cảnh đó, ngân khố dành cho các chuyến thám hiểm hàng hải đơn giản không tồn tại nữa.
Nếu Trịnh Hòa đi tiếp?
Điều gì sẽ xảy ra nếu năm 1497, bốn chiếc caravela nhỏ bé của Vasco da Gama đụng độ 250 chiến thuyền Minh, mỗi chiếc đều lớn hơn soái hạm Bồ Đào Nha? Liệu châu Âu có thể mở ra kỷ nguyên thuộc địa trên biển nếu đại dương đã có chủ?
Đây là câu hỏi ám ảnh các nhà sử học.
Cho đến hiện nay, không tồn tại bằng chứng ghi chép hay nguồn khảo cổ đáng tin cậy nào cho thấy Trịnh Hòa hoặc hạm đội Minh từng đặt chân tới châu Mỹ. Vì vậy, về mặt sử học nghiêm ngặt, Trịnh Hòa chưa từng tới châu Mỹ. Nhưng cũng không có rào cản kỹ thuật hay hàng hải nào khiến việc đó là bất khả thi.
Vào đầu thế kỷ 15, nhà Minh đã có la bàn từ tính hoàn thiện, bánh lái trục đứng, bản đồ sao và hải đồ khu vực rộng, tàu biển lớn, chịu sóng dài ngày, kèm kinh nghiệm vượt Ấn Độ Dương và biển khơi. Về mặt kỹ thuật, nếu người Polynesia có thể vượt Thái Bình Dương bằng thuyền độc mộc, nếu người châu Âu có thể vượt Đại Tây Dương bằng caravela nhỏ bé, thì hạm đội Minh hoàn toàn có khả năng đi xa hơn Đông Phi.
Vấn đề không nằm ở khả năng, mà nằm ở ý chí chính trị. Trịnh Hòa không được giao nhiệm vụ tìm đất mới hay thám hiểm vùng chưa biết. Hạm đội của ông chỉ đi tới những nơi đã có trong nhận thức của hệ thống triều cống. Những vùng ngoài bản đồ không có giá trị chính trị đối với nhà Minh.
Nếu Trung Hoa chỉ cần thêm một thế hệ hải trình, châu Mỹ có thể được chinh phục từ Thái Bình Dương. Lịch sử thuộc địa, ngôn ngữ, tôn giáo toàn cầu có thể rẽ sang hướng khác.

Cái kết cuối đời của Trịnh Hòa
Chỉ đến thời cháu nội Minh Thành Tổ là Minh Tuyên Tông (niên hiệu Tuyên Đức), Trịnh Hòa mới được phép thực hiện chuyến hải trình cuối cùng (1430 - 1433). Chuyến đi này mang tính dọn dẹp trật tự chư hầu.
Sau chuyến hải trình cuối cùng, Trịnh Hòa đã già yếu và mất đi chỗ dựa chính trị. Ông qua đời năm 1433, nhiều khả năng được thủy táng trên đường trở về từ Ấn Độ Dương, hoặc ngay sau khi cập bến Trung Hoa.
Triều đình tổ chức tang lễ danh dự, nhưng không ghi chép chi tiết. Ngôi mộ tại Nam Kinh của ông là mộ gió, không có thi hài.
Sau khi ông mất, hạm đội bị giải thể hoàn toàn. Tàu bị tháo dỡ hoặc bỏ mục. Tri thức hàng hải không được truyền tiếp. Để ngăn chặn các chuyến đi biển trong tương lai, các quan chức Nho giáo đã phá hủy các nhật ký, bản đồ và thiết kế tàu chi tiết, khiến các nhà sử học khó có thể tái tạo lại toàn bộ quy mô của các chuyến hải trình.
Trịnh Hòa đại diện cho một khoảnh khắc mà lịch sử có thể rẽ hướng. Ông chưa từng tới châu Mỹ không phải vì ông thiếu khả năng mà vì Trung Hoa đã quyết định rằng đại dương không còn cần thiết. Trịnh Hòa đã bị đẩy ra rìa của chính sử vì thời đại của ông không còn được phép tồn tại. Các con tàu của ông đã mục nát, các bản đồ của ông biến mất, nhưng câu hỏi mà ông để lại là một nền văn minh khi đã đủ mạnh, liệu có nên bước ra thế giới hay quay về bảo vệ chính mình?









![Quang - Tiệm Tạp Hóa Ngoài Kia [EP]](https://static.wixstatic.com/media/41a9b2_1c4cdee29d2549bdb3c486971fc21b92~mv2.png/v1/fill/w_444,h_250,fp_0.50_0.50,q_35,blur_30,enc_avif,quality_auto/41a9b2_1c4cdee29d2549bdb3c486971fc21b92~mv2.webp)
![Quang - Tiệm Tạp Hóa Ngoài Kia [EP]](https://static.wixstatic.com/media/41a9b2_1c4cdee29d2549bdb3c486971fc21b92~mv2.png/v1/fill/w_307,h_173,fp_0.50_0.50,q_95,enc_avif,quality_auto/41a9b2_1c4cdee29d2549bdb3c486971fc21b92~mv2.webp)









Bình luận