top of page
​AD

Việt Nam Ô Nhiễm Không Khí Nghiêm Trọng Bậc Nhất Thế Giới

Đã cập nhật: 7 ngày trước

Chất lượng không khí mà người dân Việt Nam phải hít thở là kết quả của những lựa chọn phát triển hàng thập niên.

Khu trung tâm Hà Nội chìm trong lớp khói bụi ô nhiễm dày đặc. Ảnh: Nicolas McComber
Khu trung tâm Hà Nội chìm trong lớp khói bụi ô nhiễm dày đặc. Ảnh: Nicolas McComber

Năm 2024, nồng độ PM2.5 (bụi mịn) trung bình của Việt Nam đạt 28,7 microgam trên mỗi mét khối không khí, cao gấp nhiều lần mức khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và đưa Việt Nam vào nhóm những quốc gia ô nhiễm không khí nghiêm trọng nhất hành tinh. Đây không phải là một hiện tượng bất thường mà là kết quả tích tụ của hàng thập niên công nghiệp hóa, đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế, nơi các quyết định về năng lượng, giao thông, nông nghiệp và quy hoạch đô thị dần chồng chất lên nhau để tạo nên cuộc khủng hoảng môi trường mà người dân đang hít thở mỗi ngày.


Trong hai thập niên qua, Việt Nam theo đuổi tăng trưởng công nghiệp và đô thị hoá nhanh. Nhà máy, cảng, khu công nghiệp mọc lên; nhu cầu điện tăng vọt; việc sử dụng than trong cơ cấu điện được mở rộng để đảm bảo an ninh năng lượng và giá điện rẻ. Kết quả là công suất nhiệt điện than vận hành tăng mạnh.



Theo các phân tích, công suất than đang vào hàng chục GW và vẫn có dự án trong pipeline mà PDP8 (Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050) từng quản lý. Việc mở rộng mạng lưới điện để phục vụ tăng trưởng kinh tế đã làm tăng phát thải, đặc biệt khi than vẫn đóng vai trò lớn trong sản xuất điện.


Đô thị hoá đồng nghĩa với hàng triệu xe máy và ôtô; khối lượng xây dựng dày đặc; bụi xây dựng và giao thông trở thành nguồn phát thải PM10/PM2.5 địa phương hàng đầu ở các thành phố lớn. Đồng thời, tiêu dùng nhiên liệu rắn trong hộ gia đình nông thôn (đốt củi, than) vẫn còn ở nhiều vùng, góp thêm phát thải dạng khí và hạt mịn.


IQAir báo cáo mức trung bình PM2.5 cả nước 2024 là 28.7 μg/m³, đặt Việt Nam trong top ô nhiễm toàn cầu. Hà Nội đã có lúc được xếp vào nhóm thủ đô ô nhiễm nhất toàn cầu; cả vùng đồng bằng Bắc Bộ chịu bụi mịn nặng vào mùa khô và đợt rét (khí dễ nghịch lưu, tích tụ bụi). Theo báo cáo năm 2024, Thành phố Hồ Chí Minh có mức trung bình ~20.9 μg/m³, nhưng có nhiều ngày vượt cao hơn nhiều so với trung bình năm. Những con số này thể hiện sự dao động mạnh theo mùa và sự xuất hiện các đỉnh ô nhiễm dữ dội.


PM2.5 — loại bụi mịn có đường kính không quá 2,5 micromet, nhỏ hơn khoảng ba mươi lần so với một sợi tóc người — hiện là một trong những yếu tố rủi ro hàng đầu gây bệnh tật và tử vong sớm ở Việt Nam. Bởi kích thước gần như vô hình, chúng có thể vượt qua các cơ chế bảo vệ tự nhiên của cơ thể, len sâu vào các phế nang trong phổi rồi thâm nhập vào hệ tuần hoàn. Từ đó, những hạt bụi siêu nhỏ này không chỉ ảnh hưởng đến hệ hô hấp mà còn làm gia tăng nguy cơ đột quỵ, bệnh tim mạch, ung thư phổi, tiểu đường và nhiều bệnh lý mãn tính khác. Báo cáo gánh nặng bệnh tật và phân tích tại chỗ ước tính hàng chục nghìn ca tử vong sớm liên quan đến ô nhiễm hạt mịn mỗi năm. Điều khiến PM2.5 trở thành một trong những mối đe dọa sức khỏe cộng đồng lớn nhất thế giới không phải là khả năng gây chết người tức thời, mà là việc hàng triệu người phải phơi nhiễm với chúng mỗi ngày trong nhiều năm liên tiếp mà gần như không thể nhìn thấy bằng mắt thường.


Ô nhiễm không khí ở Việt Nam gồm nhiều yếu tố phối hợp. Dữ liệu khoa học về chất lượng không khí cho thấy thực tế phức tạp. Việt Nam đang phải đối mặt với hiện tượng mà các nhà nghiên cứu khí quyển gọi là “sự chồng lớp ô nhiễm” — khi nhiều nguồn phát thải khác nhau cùng tồn tại, tương tác với nhau và tích tụ trong cùng một không gian.


Trong số đó, nhiệt điện than vẫn là một trong những nguồn phát thải nền lớn nhất. Điều đáng chú ý là tác động của than đá thường khó nhìn thấy bằng mắt thường hơn khói xe hay bụi công trường. Một nhà máy nhiệt điện không chỉ thải ra bụi từ ống khói. Nó còn phát tán vào khí quyển hàng nghìn tấn sulfur dioxide (SO₂) và nitrogen oxides (NOx) mỗi năm. Những chất khí này không nguy hiểm nhất khi vừa được thải ra. Chúng trở nên nguy hiểm hơn sau khi phản ứng với hơi nước, amoniac và các hợp chất khác trong khí quyển để tạo thành sulfate và nitrate — hai thành phần chính của bụi mịn PM2.5.



Điều đó có nghĩa là một phần bụi mà người dân Hà Nội hít thở hôm nay có thể không được sinh ra trong thành phố. Nó có thể bắt đầu hành trình của mình từ một nhà máy điện cách đó hàng chục hoặc thậm chí hàng trăm kilomet. Trong nhiều năm, vùng duyên hải phía Bắc với các cụm nhiệt điện tập trung tại Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình và Nam Định đã hình thành một vành đai phát thải bao quanh đồng bằng sông Hồng. Khi mùa đông đến, không khí lạnh tràn xuống tạo ra hiện tượng nghịch nhiệt, giống như một chiếc nắp vô hình đậy lên toàn bộ lưu vực. Các chất ô nhiễm không thể khuếch tán lên cao mà bị giữ lại gần mặt đất. Đó là lý do nhiều ngày mùa đông, Hà Nội xuất hiện trên các bảng xếp hạng ô nhiễm toàn cầu dù bản thân thành phố không sở hữu số lượng nhà máy công nghiệp khổng lồ như nhiều trung tâm sản xuất khác của thế giới.


Nếu than đá là lớp ô nhiễm nền của bức tranh, giao thông đường bộ lại là lớp mà người dân cảm nhận trực tiếp nhất. Trong vòng hai thập niên qua, Việt Nam đã trải qua một cuộc bùng nổ phương tiện cơ giới hiếm thấy. Hàng chục triệu xe máy và hàng triệu ô tô biến các đô thị lớn thành những dòng chảy giao thông gần như không bao giờ ngừng nghỉ. Vấn đề không chỉ nằm ở số lượng phương tiện mà còn ở tuổi đời và chất lượng khí thải của chúng. Một phần đáng kể xe máy tại Việt Nam được sản xuất trong thời kỳ tiêu chuẩn môi trường còn thấp, trong khi công tác kiểm định và bảo dưỡng chưa theo kịp tốc độ gia tăng của phương tiện.


Người tham gia giao thông di chuyển trên đường giữa bầu không khí ô nhiễm nặng nề tại Hà Nội, ngày 11/12/2025. Ảnh: Nhac Nguyen
Người tham gia giao thông di chuyển trên đường giữa bầu không khí ô nhiễm nặng nề tại Hà Nội, ngày 11/12/2025. Ảnh: Nhac Nguyen

Khác với nhiệt điện than, ô nhiễm giao thông không cần di chuyển hàng trăm kilomet mới gây tác động. Nó diễn ra ngay bên cạnh người dân. Mỗi giao lộ đông đúc thực chất là một điểm phát thải liên tục của bụi mịn, khí NOx và carbon đen. Những hạt carbon đen sinh ra từ quá trình đốt nhiên liệu không hoàn toàn có kích thước cực nhỏ, đủ để đi sâu vào phổi, xuyên qua hàng rào sinh học và xâm nhập vào hệ tuần hoàn. Các nghiên cứu y khoa trong nhiều năm qua đã liên hệ loại hạt này với nguy cơ gia tăng bệnh tim mạch, đột quỵ, sa sút nhận thức và ung thư phổi. Người điều khiển xe máy trong giờ cao điểm thực chất đang ngồi giữa một đám mây ô nhiễm mà họ vừa hít phải vừa góp phần tạo ra.


Tuy nhiên, có một nguồn ô nhiễm khác ít được nhắc đến hơn nhiều dù ảnh hưởng của nó đôi khi không hề nhỏ: đốt rơm rạ sau thu hoạch. Mỗi mùa gặt kết thúc, hàng triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp còn lại trên các cánh đồng. Về lý thuyết, số rơm này có thể được tái chế thành phân bón, nguyên liệu sinh khối hoặc thức ăn chăn nuôi. Nhưng trong thực tế, phương án nhanh nhất, rẻ nhất và ít tốn công nhất vẫn là châm lửa đốt bỏ.


Từ mặt đất, một đám cháy rơm trông có vẻ vô hại. Nhưng khi hàng nghìn đám cháy xuất hiện đồng thời trên khắp đồng bằng Bắc Bộ hoặc đồng bằng sông Cửu Long, chúng tạo nên những cột khói khổng lồ có thể quan sát được từ vệ tinh. Khói từ rơm rạ chứa bụi PM2.5, carbon monoxide, methane và carbon đen. Trong những ngày gió yếu hoặc xuất hiện nghịch nhiệt, lượng khói này có thể trôi vào các đô thị lớn và làm chất lượng không khí suy giảm đáng kể. Điều đáng nói là đây không hoàn toàn là vấn đề môi trường mà còn là vấn đề kinh tế. Chừng nào việc thu gom và tái sử dụng rơm rạ vẫn tốn kém hơn việc đốt bỏ, người nông dân sẽ tiếp tục lựa chọn giải pháp đơn giản nhất.



Song song với những nguồn phát thải truyền thống là tác động từ chính quá trình phát triển đô thị. Trong nhiều năm, Việt Nam được xem là một trong những nền kinh tế đô thị hóa nhanh nhất Đông Nam Á. Các tuyến đường cao tốc mới, các khu đô thị mới, hệ thống cảng biển, nhà máy và hàng nghìn tòa chung cư liên tục mọc lên. Mỗi công trình là một nguồn phát sinh bụi. Xi măng, cát, đất đá, hoạt động đào móng, phá dỡ và vận chuyển vật liệu đều giải phóng một lượng lớn hạt bụi vào không khí. Khi các biện pháp kiểm soát như che chắn công trình, phun nước hoặc vệ sinh xe vận tải không được thực hiện đầy đủ, lượng bụi này nhanh chóng lan ra môi trường xung quanh.


Khác với bụi từ than đá hay khí thải xe cộ, bụi xây dựng thường có kích thước lớn hơn. Nhưng khi hàng nghìn công trình hoạt động đồng thời trong cùng một đô thị, đóng góp của chúng đối với tổng tải lượng ô nhiễm trở nên đáng kể. Nhiều nghiên cứu tại Hà Nội cho thấy bụi đường và bụi tái phát tán từ hoạt động xây dựng là một trong những nguồn PM quan trọng nhưng thường bị đánh giá thấp trong các cuộc thảo luận công khai.


Ở tầng thấp nhất của hệ thống phát thải là những nguồn nhỏ lẻ mà hầu như không ai chú ý đến. Đó là những đống rác bị đốt ở ven đường, những lò nung gạch thủ công ở ngoại ô, những cơ sở sản xuất quy mô hộ gia đình hoặc những bếp than vẫn còn tồn tại trong một số khu vực. Mỗi nguồn riêng lẻ có vẻ không đáng kể. Nhưng khi hàng triệu hộ gia đình và hàng nghìn cơ sở nhỏ cùng phát thải trong suốt nhiều năm, tác động cộng dồn trở nên rất lớn.


Đặc biệt nguy hiểm là việc đốt rác sinh hoạt ngoài trời. Khi nhựa, cao su và các vật liệu tổng hợp bị đốt trong điều kiện nhiệt độ thấp, chúng giải phóng không chỉ bụi mịn mà còn cả dioxin, furan và nhiều hợp chất hữu cơ độc hại khác. Đây là những chất có khả năng tích lũy lâu dài trong môi trường và liên quan đến nhiều dạng ung thư. Khác với các nhà máy lớn vốn có thể được giám sát và quản lý, những nguồn phát thải phi chính thức này rất khó kiểm soát vì chúng phân tán ở khắp nơi.


Khi nhìn toàn bộ bức tranh, điều hiện ra không phải là một cuộc khủng hoảng do một ngành kinh tế hay một nhóm người gây ra. Ô nhiễm không khí ở Việt Nam là sản phẩm của nhiều thập niên phát triển chồng chéo. Than đá cung cấp điện cho tăng trưởng. Xe máy và ô tô phục vụ nhu cầu di chuyển. Nông dân đốt rơm để tiết kiệm chi phí. Các công trường xây dựng phản ánh tốc độ đô thị hóa. Những nguồn nhỏ lẻ tồn tại vì khoảng trống trong quản lý môi trường. Từng mắt xích riêng lẻ đều có lý do tồn tại của nó. Kết hợp những nguồn này với điều kiện thời tiết mùa khô tạo ra các đợt ô nhiễm cực kỳ nghiêm trọng, chỉ cần vài yếu tố cộng hưởng là có thể tạo ra một lớp sương mù màu xám dày đặc trong vài ngày đến vài tuần.


Đó là lý do cuộc khủng hoảng không khí của Việt Nam không thể được giải quyết bằng một biện pháp đơn lẻ. Đóng cửa một nhà máy than sẽ không đủ. Cấm một loại xe sẽ không đủ. Chấm dứt đốt rơm rạ cũng không đủ. Vấn đề nằm ở chính cấu trúc của mô hình phát triển hiện đại, nơi mọi nguồn phát thải đều góp một phần vào bầu không khí mà cuối cùng tất cả mọi người cùng phải hít thở.



Việt Nam đã ban hành kế hoạch quốc gia về quản lý chất lượng không khí (Quyết định về Kế hoạch quốc gia 2021 - 2025), phê duyệt các quy hoạch môi trường và lập cơ sở hạ tầng giám sát không khí, nhưng khâu thực thi, năng lực giám sát và phối hợp liên ngành vẫn yếu. Hệ thống trạm đo tự động đang được mở rộng, nhưng mật độ trạm đo tại các tỉnh thành vẫn còn hạn chế so với nhu cầu, làm khó việc đánh giá chính xác nguồn ô nhiễm liên vùng.


Ngoài ra, các quyết sách ngành như chính sách giá điện, giá than, khuyến khích đầu tư hạ tầng đôi khi làm mâu thuẫn mục tiêu khí hậu và sức khoẻ. Việc duy trì giá điện thấp nhằm hỗ trợ tăng trưởng có thể làm giảm động lực chuyển sang nguồn sạch nếu không đi kèm cơ chế bù trừ thích hợp. Các ràng buộc kinh tế như chi phí năng lượng, chi phí giải pháp nông nghiệp thay thế đốt rơm khiến nhiều biện pháp sạch khó nhân rộng.


Các doanh nghiệp năng lượng, nhà phát triển hạ tầng, và một phần người tiêu dùng hưởng lợi từ điện rẻ, phát triển nhanh, nhưng chi phí sức khoẻ rơi lên người dân, hệ thống y tế và ngân sách công. Việc phân bổ chi phí này là cội rễ chính trị của vấn đề. Nếu giá điện phản ánh chi phí môi trường thực, mô hình đầu tư có thể chuyển sang sạch hơn. Hiện chưa có công cụ tài chính đủ mạnh để bắt toàn bộ chi phí sức khoẻ vào quyết định đầu tư.


Những biện pháp chính phủ và địa phương đề xuất hoặc thực thi gồm mở rộng mạng lưới trạm quan trắc không khí, thúc đẩy xe điện, chuyển đổi xe công cộng 50% xe buýt, 100% taxi EV ở một số thành phố đến 2030 được nhắc tới, điều chỉnh PDP8 để tăng tỉ lệ năng lượng tái tạo và giảm bổ sung than mới, chương trình quản lý rơm rạ và hỗ trợ nông dân. Tuy nhiên việc thay đổi cấu trúc nguồn điện từ than sang gas/điện gió/điện mặt trời cần thời gian, vốn và cơ chế thị trường. Một số rào cản tài chính như giá nhiên liệu, giá bán điện cố định làm chậm đầu tư vào khí đốt tự nhiên. Giải pháp cho nông dân (máy thu gom rơm, chế biến nông sản, tạo giá trị cho rơm rạ) còn yếu về mặt kinh tế, nhiều lựa chọn thay thế tốn kém hoặc đòi hỏi tổ chức chuỗi cung ứng. Kiểm soát đốt rác, lò gạch đòi hỏi thanh tra, xử phạt và thay đổi hành vi, điều này đòi hỏi chính sách liên tục, không phải các chiến dịch ngắn hạn.


Hà Nội chuyển đổi sang đội xe buýt VinBus năng lượng xanh cuối năm 2025. Ảnh: Nhac Nguyen
Hà Nội chuyển đổi sang đội xe buýt VinBus năng lượng xanh cuối năm 2025. Ảnh: Nhac Nguyen

Các phân tích gần đây và điều chỉnh PDP8 cho thấy chính phủ đã nhận ra vấn đề và bắt đầu giảm tốc độ bổ sung than, đặt mục tiêu tăng nhanh nguồn tái tạo, nhưng lộ trình còn mờ và rủi ro trì hoãn thực thi vẫn lớn.



Nếu chính sách thực thi đồng bộ (cắt mạnh than trong PDP, giá nội bộ hoá chi phí sức khoẻ, khuyến khích tài chính cho năng lượng tái tạo và EV, hỗ trợ công nghệ cho nông dân xử lý rơm rạ), Việt Nam có thể giảm PM2.5 đáng kể trong thập niên tới và giảm gánh nặng y tế. Các điều chỉnh PDP gần đây và lộ trình phát triển năng lượng cho thấy cửa ngõ để làm điều đó tồn tại, nhưng cần cam kết thực sự về tài chính và cơ chế thị trường.


Nếu than vẫn được giữ như trụ cột, việc mở rộng đô thị và giao thông tiếp tục mà không có cải tổ lớn về chất lượng nhiên liệu, quản lý xây dựng và kiểm soát đốt nông nghiệp, thì mức ô nhiễm sẽ còn kéo dài, với chi phí y tế và kinh tế ngày càng tăng. Một số dự án than đã bị hoãn nhưng không bị hủy hoàn toàn; điều đó tạo rủi ro tồn tại “than treo” trong tương lai.


Dữ liệu cho thấy Việt Nam không ô nhiễm vì một lý do duy nhất mà vì một chuỗi lựa chọn phát triển vốn ưu tiên tăng trưởng nhanh, chi phí năng lượng rẻ và ít tính đến ngoại chi phí sức khoẻ. Cùng lúc, nhiều tập quán đốt rơm, đốt rác và điểm yếu quản lý tạo nên sự cộng hưởng. Để thay đổi điều đó, cần cả thay đổi chính sách vĩ mô như cơ chế thị trường, PDP, giá điện lẫn can thiệp cục bộ như thiết bị xử lý rơm, kiểm soát xây dựng, phun nước, thu gom rác và tất cả phải đồng bộ.


Chính phủ có dám đặt sức khoẻ công cộng ngang hàng với mục tiêu tăng trưởng GDP? Các biện pháp kỹ thuật có sẵn, nhưng chỉ có quyết định dứt khoát mới đẩy Việt Nam ra khỏi top ô nhiễm thế giới.

Bình luận


Không bao giờ bỏ lỡ bản tin mới

Đăng ký nhận tin từ Ngoài Kia

Cảm ơn bạn. Chúng tôi sẽ liên hệ sớm.

bottom of page