top of page
​AD

74 Tên Gọi, Bí Danh và Bút Danh Của Hồ Chí Minh

Các bút hiệu được Hồ Chí Minh, người cha sáng lập tinh thần độc lập và tự do của nước Việt Nam, sử dụng trong quá trình biên tập viết báo và các hoạt động liên quan khác.

Nguyễn Ái Quốc, đại biểu Đông Dương, chụp tại Đại hội Đảng Cộng sản Pháp họp tại Marseille năm 1921.

Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 2/9/1969) tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung. Tuy nhiên, chính ông xác nhận bằng chính bút tích của mình trong một bài viết năm 1954 tên lúc nhỏ của ông là Nguyễn Sinh Côn. Cha của Nguyễn Sinh Cung là một nhà Nho tên là Nguyễn Sinh Sắc (1862–1929). Mẹ ông là bà Hoàng Thị Loan (1868–1901). Nguyễn Sinh Cung có một người chị là Nguyễn Thị Thanh (sinh năm 1884), một người anh là Nguyễn Sinh Khiêm (sinh năm 1888, tự Tất Đạt, còn gọi là Cả Khiêm) và một người em trai mất sớm là Nguyễn Sinh Nhuận (1900–1901, tên khi mới lọt lòng là Xin).


Sau khi mẹ mất, ông về Nghệ An ở với bà ngoại một thời gian ngắn. Không lâu sau thì cha ông đỗ Phó bảng, ông liền theo cha về quê nội. Tại quê nội, cha ông đã làm “lễ vào làng” cho hai người con trai với tên mới là “Tất Đạt” cho Nguyễn Sinh Khiêm và “Tất Thành” cho Nguyễn Sinh Cung; từ đây ông bắt đầu dùng tên Nguyễn Tất Thành.



Ngay từ còn trẻ, Nguyễn Tất Thành thường gặp gỡ một số nhà nho yêu nước đương thời, tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc và có chí đuổi thực dân Pháp, đấu tranh cho quyền tự quyết của người Việt Nam, giải phóng đồng bào. Ông tuy khâm phục Đề Thám (Hoàng Hoa Thám), Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào cả. Theo quan điểm của ông, Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải cách, điều đó chẳng khác nào “xin giặc rủ lòng thương”, còn Phan Bội Châu thì hy vọng Đế quốc Nhật Bản giúp đỡ để chống Pháp, điều đó nguy hiểm chẳng khác nào “đuổi hổ cửa trước, rước báo cửa sau”. Nguyễn Tất Thành thấy rõ là cần quyết định con đường đi của riêng mình.


Khoảng trước tháng 2/1911, ông vào Sài Gòn. Tại đây, Nguyễn Tất Thành theo học trường Bá Nghệ là trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son (bây giờ là trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng), vừa đi bán báo ở khu vực thương cảng để kiếm sống và đồng thời tìm hiểu đời sống công nhân. Ở đây, ông học được 3 tháng. Sau đó ông quyết định sẽ tìm một công việc trên một con tàu viễn dương để được ra nước ngoài học hỏi tinh hoa của phương Tây.


Mô hình chiếc tàu buôn Đô đốc Latouche-Tréville được trưng bày tại bến Nhà Rồng.


Nguyễn Tất Thành đã đi qua nhiều quốc gia và châu lục, đến Hội nghị Hòa bình Versailles để kiến nghị các nước đồng minh chiến thắng trong Thế chiến I chấm dứt chế độ thực dân của Pháp đối với Việt Nam. Bị từ chối, ông quay sang chủ nghĩa cộng sản, giúp thành lập Đảng Cộng sản Pháp trước khi sang Liên Xô để đào tạo. Trở về Việt Nam năm 1941, ông thành lập phong trào độc lập Việt Minh, đầu tiên là chống thực dân Pháp vào những năm 1950 và sau đó là chống Mỹ trong Chiến tranh Đông Dương.



Trong thời kỳ bôn ba hoạt động ở nước ngoài, ông được cho là đã sử dụng hơn 100 tên gọi khác nhau. Có những tên gọi trở nên phổ biến, được nhiều người biết đến và gắn liền với các sự kiện quan trọng trong cuộc đời ông, như Nguyễn Ái Quốc dùng hầu hết thời kì ở Pháp khi viết báo; nhưng cũng có những tên gọi chỉ được sử dụng một lần duy nhất và rất ít người biết đến. Thế nhưng, tên gọi Hồ Chí Minh trở thành tên gọi chính thức của ông với cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mỗi bí danh hay bút danh đều có một ý nghĩa riêng, phục vụ lợi ích cách mạng; phần nào cũng đã phản ánh nhân cách, tư tưởng về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, vì độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.


Hồ Chí Minh giảm dần hoạt động chính trị vào năm 1965 vì lý do sức khỏe rồi qua đời vào năm 1969. Năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chiến thắng, hai miền Việt Nam được thống nhất, dẫn đến sự ra đời của nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào năm 1976. Thủ đô Sài Gòn của miền Nam Việt Nam đã được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh để vinh danh ông.


Tạp chí Ngoài Kia trân trọng giới thiệu các tên gọi, bí danh, bút danh của Hồ Chí Minh qua các thời kỳ.



Bút hiệu thường dùng


  • Albert de Pouvourville: Theo báo cáo ngày 30/1/1920 của Bộ Nội vụ, Giám đốc sở liêm phóng trung ương, Sở kiểm tra trung ương cảnh sát hành chính về phong trào đòi độc lập của Đông Dương ở Paris, Nguyễn Ái Quốc là linh hồn của phong trào đòi độc lập cho Đông Dương, là Tổng Thư ký của nhóm những người Việt Nam yêu nước. Đây là một trong những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Paris mà báo cáo ghi lại: “Ông Nguyễn Ái Quốc còn cho công bố dưới dạng truyền đơn những đoạn trích từ nhiều tờ báo có liên quan đến vấn đề Đông Dương, đăng trong báo Điện tín thuộc địa và ký tên Albert de POUVOURVILLE.”

  • A.G.: Dùng trong 7 tài liệu viết (6/1947 - 1/1950).

  • A.P.: Dùng 1 lần trong bài ‘Văn minh Pháp ở Đông Dương’ - Tạp chí Inpekorr Tiếng Đức số 17, 1927.


Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cộng hòa Dân chủ Đức Wilhelm Pieck, năm 1957.

  • Bác Hồ: Dùng trong 119 tài liệu viết (27/10/1946 - 21/7/1969).

  • Bình Sơn: Dùng trong 10 tài liệu viết (11/1940 - 12/1940).

  • C.B.: Dùng trong 236 tài liệu viết trong mục “Nói và nghe” trên Báo Nhân dân (3/1951 - 3/1957).

  • C.M.Hồ: Dùng trong 3 tài liệu viết (7/1945 - 8/1945).



  • Chen Vang: Dùng năm 1923.

  • C.K.: Dùng trong 9 tài liệu viết (1/1960 - 3/1960).

  • Chiến Thắng: Dùng trong 8 tài liệu viết (9/1945 - 10/1945).

  • Chiến Sĩ: Dùng trong 128 tài liệu viết (3/1945 - 7/1969).

  • Chú Nguyễn: Dùng 1 lần tháng 3/1923.

  • CULIXE: Nguyễn Ái Quốc ký bút danh CULIXE trong bài báo ‘Rủi ro: Cảnh sinh hoạt của thợ thuyền An nam’ - Báo Nhân đạo (L’Humanité), ngày 18/3/1922.

  • Cuồng Điệt Tất Thành, C.Đ. Tất Thành: Dùng 1 lần năm 1914.


  • Din: Dùng trong 3 tài liệu viết (1/1952 - 7/1953).

  • Đ.X.: Dùng trong 51 tài liệu viết (6//1951 - 7/1954), trong chuyên mục Thường thức chính trị trên Báo Cứu quốc.

  • H.C.M.: Dùng trong 8 tài liệu viết (3/1946 - 12/1966).

  • H.B: Dùng một lần trong bài ‘Có phê bình phải có tự phê bình’ - Báo Nhân dân số 488 ngày 4/ 7/1955.

  • H.T.: Dùng 1 lần trong bài ‘Bà Trưng Trắc’ - Báo Thanh Niên, số 72 ngày 12/12/1926.


Thanh niên Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị Hòa bình Versailles, Pháp, năm 1919.

  • HOWANG T.S.: Dùng 1 lần tại Báo cáo trong Đại hội công nhân và nông dân ngày 2/5/1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc).

  • Hồ: Dùng trong 7 tài liệu (5/1945 - 2/1947).

  • Hồ Chí Minh: (13/8/1942 - 2/9/1969).

  • L.T.: Dùng trong 4 tài liệu viết (4/1925 - 5/1954).

  • La Lập: Dùng 1 lần tại Báo Nhân dân số 4530 ngày 1/9/1966.

  • Lê Ba: Dùng 1 lần trong bài ‘Trả lời ông Menxphin thượng nghị sĩ Mỹ’ ngày 20/4/1966 - Báo Nhân dân số 4407.


Hồ Chí Minh (hàng đứng, thứ ba từ trái sang), Võ Nguyên Giáp (hàng đứng, thứ năm từ trái sang) và Cơ quan Tình báo chiến lược, tiền thân của Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA), năm 1945.

  • Lê Nhân: Dùng 1 lần trong bài ‘Thất bại và thành công’ - Báo Nhân dân số 117 ngày 19/8/1949.

  • Lin: Dùng trong 5 tài liệu viết (1/1935 - 9/1939).

  • LOO SHING YAN: Bài ‘Thư từ Trung Quốc, số 1’, ngày 12/11/1924, của Nguyễn Ái Quốc viết về phong trào cách mạng Trung Quốc, sự thức tỉnh, giác ngộ cách mạng cho phụ nữ Trung Quốc, gửi tạp chí RABÓTNHÍTXA. Trong bài ký bút danh Loo Shing Yan (nữ đảng viên quốc dân đảng).

  • Lý Mỗ: Xuất hiện trong bài báo trên Báo Công Nhân Chi Lộ Đặc Hiệu, số 20, ra ngày 14/7/1925.


  • Lý Thụy: Dùng trong 2 tài liệu (18/12/1924 - 6/1/1926). Cũng dùng khi làm phiên dịch cho phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô do Mikhail Markovich Borodin làm trưởng đoàn năm 1924.

  • Mai Hữu Phúc: Dùng 1 lần.

  • N.: Dùng trong 5 tài liệu (2/1922 - 1/1924).

  • N.A.K.: Dùng 2 lần trong ‘Thư gửi Quốc tế nông dân’ ngày 3/2/1928 và thư báo cáo ‘Cuộc đình công lớn của công nhân dầu lửa’ gửi Quốc tế Cộng sản ngày 6/3/1931.

  • N.K.: Dùng một lần trong bài ‘Sự thống trị của đế quốc Pháp tại Đông Dương’ - Tạp chí Inprekorr bản tiếng Pháp ngày 15/10/1927.


Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev đón Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Moscow năm 1957.

  • Nguyễn: Dùng trong 2 tài liệu (4/1924 - 8/1928).

  • Nguyễn Ái Quốc: (1919 - 8/1945).

  • N.A.Q.: Dùng trong 8 tài liệu viết (6/1922 - 9/1930) trên Báo Người cùng khổ (Le Paria), Báo Nhân đạo (L’Humanité).

  • N. ÁI QUỐC: Dùng 1 lần ngày 16/12/1927.

  • NG.A.Q: Dùng 1 lần ngày 1/8/1922.

  • NGUYỄN.Ái.Quốc: Dùng trong 2 tài liệu ngày 14/10/1921 và ngày 1/8/1922.

  • Nguyễn Ái Dân: dùng trong bức thư gửi cán bộ ngành Y tế đăng trên Báo Nhân Dân nhân k