top of page
​AD

Đạo Luật Con Lai Về Quê Hương (Amerasian Homecoming Act) Năm 1988

Câu chuyện về “món quà tự do” được tái hiện trong Đạo luật Con lai Về Quê hương được thông qua phần lớn nhờ các phương tiện truyền thông liên tục đưa tin về con lai ở Việt Nam.


Bắt đầu từ những năm 1980, ý thức của công chúng Hoa Kỳ về những đứa trẻ Mỹ lai đã tăng lên. Ở Mỹ, con lai nhắc nhở công chúng về việc quân đội Mỹ thất bại và rút quân khỏi Việt Nam. Tại Việt Nam, con lai đóng vai trò như một lời nhắc nhở về chiến tranh và sự can thiệp của Mỹ.


Để viết lại sự thất bại của nước Mỹ bằng câu chuyện cứu rỗi, Mỹ đã thông qua đạo luật nhập cư giúp trẻ em con lai nhập cư vào Mỹ. Mỹ tuyên bố cứu trẻ em con lai bị gạt ra ngoài lề xã hội Việt Nam bằng việc đưa con lai sang Mỹ.



Các phương tiện truyền thông Mỹ vì thế đã tập trung làm kịch tính hóa việc những đứa trẻ con lai bị đối xử không công bằng ở Việt Nam. Đạo luật Nhập cư Con lai năm 1982 và Đạo luật Con lai về Quê hương năm 1988 sử dụng lối hùng biện “món quà tự do” để duy trì câu chuyện về sự cứu rỗi của nước Mỹ.



Văn bản đầu tiên đề cập đến những người Mỹ lai trong Chiến tranh Việt Nam nằm trong tài liệu ‘Ghi chép về các cuộc tranh luận trong Bộ máy Hỗ trợ Người Tị nạn Trên Toàn thế giới của Hoa Kỳ (1966)’. Đoạn văn ngắn được sao chép ở trên là phần duy nhất đề cập đến người con lai Mỹ trong toàn bộ tài liệu và diễn giả tuyên bố “ủy ban nên biết ngắn gọn”, cho thấy rằng tình trạng khó khăn của người con lai Mỹ là một chủ đề tương đối không quan trọng.


Mặc dù đoạn văn mô tả chính xác hoàn cảnh khó khăn của những đứa trẻ con lai “nói chung bị xã hội từ chối vào thời điểm này và thường xuyên bị bỏ rơi”, nhưng không có hành động nào được thực hiện để bảo vệ những đứa trẻ con lai sau cuộc thảo luận này.


Tài liệu của Ủy ban gợi ý một cách chính xác rằng tình trạng khó khăn của người Mỹ lai sẽ là một vấn đề trong tương lai đối với Hoa Kỳ, nêu rõ rằng Hoa Kỳ nên lập một “kế hoạch sơ tán và bố trí nuôi dưỡng hoặc nhận con nuôi”.


Bất chấp thời điểm lập năm 1966, không có chương trình nào được tạo ra cho đến những năm 1980, sau khi Mỹ rút khỏi chiến tranh và phải giải quyết hậu quả của việc thua cuộc trong một cuộc chiến. Quốc hội Hoa Kỳ chỉ bắt đầu bảo vệ con lai vào những năm 1980 khi những câu chuyện về con lai được lan truyền rộng rãi.



Đạo luật Nhập cư Con lai (1982)


Đạo luật Nhập cư Con lai năm 1982 là một sửa đổi của Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch và cho phép con lai nhập cư vào Hoa Kỳ. Các yêu cầu để chứng minh danh tính con lai rất nghiêm ngặt, thể hiện rõ trong “Danh sách kiểm tra đánh giá con lai”.



Đạo luật nhập cư con lai năm 1982 tập trung vào danh tính huyết thống, nghĩa là danh tính của cả cha và mẹ. Theo Đạo luật Nhập cư Con lai năm 1982, con lai chỉ được coi là “con lai” nếu họ chứng minh được mình có mẹ là người Việt và cha là người Mỹ. Tuy nhiên, các bà mẹ thường hủy hồ sơ về mối quan hệ của họ và danh tính của con họ để bảo vệ chúng khỏi bị phân biệt đối xử. Vì vậy, việc chứng minh danh tính của người cha là điều gần như không thể. Do đó, nhiều người con lai không thể di cư sang Hoa Kỳ theo Đạo luật Nhập cư Con lai năm 1982.


Đạo luật Nhập cư Con lai năm 1982 không cung cấp quyền công dân đầy đủ cho người con lai mặc dù Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch mở rộng quyền công dân cho trẻ em sinh ra từ cha mẹ là người Mỹ bên ngoài Hoa Kỳ. Việc từ chối cấp quyền công dân này bắt nguồn từ sự phân biệt chủng tộc. Hoa Kỳ có lịch sử phân biệt chủng tộc cũng như lịch sử của Chủ nghĩa phương Đông, tạo ra sự bất lực trong việc dung hòa các đặc điểm của người da trắng với người gốc Á. Trong lịch sử Hoa Kỳ, những dân tộc đa chủng tộc bị từ chối quyền công dân hoặc bị xếp vào đẳng cấp chủng tộc thấp hơn so với những người da trắng vì những dân tộc đa chủng tộc không được coi là đủ da trắng.


Tương tự như vậy, người Mỹ không thể chấp nhận con lai là công dân dù họ có dòng máu Mỹ vì huyết thống của họ là một phần châu Á. Hoa Kỳ có lịch sử phân biệt chủng tộc đối với người châu Á, thể hiện rõ qua Đạo luật Loại trừ Trung Quốc năm 1882 và các trại tập trung người Nhật Bản năm 1942. Sự kết hợp giữa chủ nghĩa phân biệt chủng tộc chống lại người châu Á và chống lại những người thuộc đa chủng tộc đã dẫn đến Đạo luật Nhập cư Con lai năm 1982 chỉ hỗ trợ việc nhập cư cho con lai nhưng không cấp quyền công dân.


Đạo luật Nhập cư Con lai phản ánh phức hợp cứu tinh của Mỹ trong việc tuyên bố cứu con lai khỏi Việt Nam mà không hỗ trợ đầy đủ cho họ. Ngoài các tiêu chuẩn cao về nhận dạng con lai và không cấp quyền công dân, Đạo luật Nhập cư Con lai đã tách trẻ em con lai khỏi gia đình của họ bằng cách chỉ đề nghị giúp đỡ con lai nhập cư. Quan điểm hạn hẹp về việc chỉ giúp đỡ những đứa trẻ con lai nhập cư phản ánh một phức cảm cứu tinh của người Mỹ cho rằng chỉ giúp đỡ đứa trẻ sẽ giải quyết được vấn đề. Tuy nhiên, nhiều người Mỹ lai vẫn còn là những đứa trẻ cần gia đình và không thể nhập cư nếu không có họ. Do đó, Đạo luật Nhập cư Con lai không phải là một biện pháp hấp dẫn để rời khỏi Việt Nam. Việc người Mỹ không nắm bắt được các sắc thái của tình trạng khó khăn của người con lai cho thấy rằng Đạo luật Nhập cư Con lai không được thiết kế để bảo vệ trẻ em con lai.



Đạo luật Con lai Về Quê hương (1988)



Sự lên án của công chúng đối với cách đối xử với con lai đã thúc đẩy Đạo luật Con lai Về Quê hương. Năm 1987, Audrey Tiernan, nhiếp ảnh gia của Newsday, đã chụp ảnh Lê Văn Minh, một đứa trẻ con lai mồ côi mắc bệnh bại liệt. Bức ảnh của Lê Văn Minh đã truyền cảm hứng cho các học sinh trung học tại trường trung học Huntington ở New York yêu cầu người đại diện của họ, Robert Jan Mrazek, bảo vệ trẻ em con lai. Sau khi bức ảnh của Tiernan được công bố, nhà báo Irene Virag của Newsday và các nguồn tin tức khác bắt đầu đưa tin rộng rãi về những người con lai, làm phổ biến và kịch tính hóa về họ. Áp lực về tin tức công khai này đã khiến Bob Mrazek thúc đẩy Đạo luật Con lai Về Quê hương thông qua Quốc hội.



Đạo luật Con lai Về Quê hương cho phép và khuyến khích toàn bộ gia đình nhập cư cùng với đứa con lai của họ, duy trì sự đoàn kết gia đình. Sự khác biệt này biểu thị sự cải thiện trong hiểu biết của người Mỹ về tình trạng khó khăn của người Mỹ lai. Đạo luật Con lai Về Quê hương đã khắc phục vấn đề nhận dạng qua xét nghiệm máu được trình bày trong Đạo luật Nhập cư Con lai năm 1982.


Tuy nhiên, Đạo luật Con lai Về Quê hương đã sử dụng các bài kiểm tra và tiêu chuẩn phân biệt chủng tộc, thể chất không đáng tin cậy để xác định danh tính của con lai. Nhiều gia đình Việt Nam đã trả tiền cho trẻ em con lai để tự nhận là thành viên của gia đình họ, lợi dụng sự phân biệt chủng tộc của người Mỹ để vượt qua bài kiểm tra thể chất và nhập cư vào Hoa Kỳ.


Khi Lê Văn Minh được cấp thị thực vào Mỹ, trường trung học Huntington ở New York đã tổ chức “Ngày Lê Văn Minh”. Tại buổi lễ, như Irene Virag đã viết trong bài ‘Kỷ niệm những người bạn của Lê Văn Minh’, Đại diện Robert Mrazek đã nói với các sinh viên như sau: “Các bạn sẽ sớm có cơ hội gặp một chàng trai trẻ mà các bạn đã cứu mạng... Các bạn nên tự hào. Trường trung học của bạn có trách nhiệm đưa Lê thoát khỏi cuộc sống khốn khổ để đến một cuộc sống mới ở Mỹ.”




Tuyên bố của Mrazek phản ánh tình cảm “món quà tự do”, cụ thể là những sinh viên Mỹ này đã tặng cho Lê Văn Minh sự tự do và đã đưa anh ấy thoát ra ngoài của một cuộc đời khốn khổ. Cụ thể, họ đã “cứu sống” Lê Văn Minh, cho thấy người Mỹ hoàn toàn có trách nhiệm trao tặng sự sống và những người tị nạn bất lực trông cậy vào những vị cứu tinh của Mỹ.

Comments


bottom of page