top of page
​AD

Người Thượng, Người Việt và Cao Nguyên

Hồi trước 1975, người Việt kêu những dân tộc thiểu số sống trên núi rừng là “người Thượng”. Rất đơn giản, chữ 上 (thượng) có nghĩa ở phía trên và chữ 下 (hạ) có nghĩa ở phía dưới.

Cha và con trai người Thượng, ảnh chụp năm 1947. Ảnh: Michel HUET/Gamma-Rapho

Ngoài Bắc họ kêu đầy đủ hơn là người ở miền thượng du, dân thượng du là Mường, Thổ, Thái và Mán. Có vùng thượng du sẽ có miền trung du và hạ thu. Hạ du là đồng bằng, trung du là giữa đồng bằng và đồi núi.


‘Quê em miền trung du’ nổi tiếng qua tiếng hát Thái Thanh:


“Quê em miền trung du Đồng suối lúa xanh rờn Giặc tràn lên thôn xóm Dâu bờ xanh thắm Nong tằm chín lứa tơ Không tay người chăm bón.”


Người Miền Nam không kêu thượng du, họ kêu thẳng là “Thượng” khi ám chỉ người Ba Na, Jarai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông.


Ông Lê Dinh có bài ‘Chiều lên bản Thượng’:


“Gió cuốn theo chiều xuống qua bao đồi nương Nắng úa trên ngàn lá khi ánh chiều buông Tiếng hát cô Mường vương trên rừng chiều bao la Qua suối đồi khe lá.”


Nhận thức về người bổn địa của đất Miền Nam


Nam Kỳ có chữ “bổn địa” (本地) là cái đất căn bản, đất gốc. Người bổn địa hay thổ dân là người sống nguyên thủy và đầu tiên hay là lâu đời tại một vùng đất. Dân tộc bổn địa (indigenous peoples) và dân tộc thiểu số (minorities) là hai khái niệm pháp lý hoàn toàn khác nhau. Vậy ta có thể thấy dân Chàm là dân bổn địa ở Trung Kỳ, dân Thượng như Banar, J'rai, Rhade, Khor, Mạ, XDang, MơNong, Lạch là dân bổn địa ở Cao Nguyên.


Coi sách Bình Nguyên Lộc ta thấy người bổn địa của đất Sài Gòn là Mạ và Stieng. Người Việt di cư Nam tiến vô Phương Nam thích sống ở đồng bằng và gần sông để làm ruộng, thành ra dân bổn địa co cụm về rừng núi, Cao Nguyên.



Người Khmer là dân bổn địa ở Miền Tây Lục Tỉnh. Thời Việt Nam Cộng Hòa ghi những dân thiểu số là “đồng bào thiểu số”, “sắc tộc thiểu số”.


Tại Ninh Thuận thời Việt Nam Cộng Hòa có quận An Phước là quận người Chàm ở phần đông. Quận trưởng An Phước luôn luôn là người Chàm, quận này có tòa án phong tục .


VNCH thời 1969 có Bộ Sắc Tộc do một người Thượng lãnh đạo coi sóc Tây Nguyên. Tổng trưởng Bộ Sắc Tộc là các ông Paul Nưr, Ya Ba, Nay Louette. Tòa nhà bộ này ở đường Nguyễn Du, sau này hình như là tòa soạn báo CA TP.HCM.



Vài dòng về lịch sử Cao nguyên


Trong suốt thế kỷ 18 và 19 với những tranh chấp bảo hộ Lào và Cam Bốt giữa Việt Nam và Xiêm La thì vùng đất Cao Nguyên Việt Nam hiện tại là vùng đệm.


Chúng ta đọc sử thấy rằng sau thời Minh Mạng, vua Thiệu Trị phải rút quân bỏ Trấn Tây Thành về vì quá tốn kém và từ đó tới 1858 khi Pháp qua thì Xiêm La không còn đối thủ. Lào và Cam Bốt sống với Xiêm còn khổ hơn sống với Việt. Vùng Cao Nguyên trên lý thuyết thuộc nhà Nguyễn nhưng thực tế lam sơn chướng khí nên triều đình không có lên và Cao Nguyên ảnh hưởng của Xiêm La là có. Thí dụ ta nghe nói vua voi ở Buôn Đôn Darlac hồi xưa săn được voi trắng thì cống nạp cho vua Xiêm liền, cái này chứng tỏ khi đó Xiêm có ảnh hưởng ở đất này.


Cao Nguyên là đất bổn địa của người sắc tộc mà nhà Nguyễn kêu là mọi hết, Mọi Đá Vách (Hré), Mọi Hời (Hroi, Kor, Bru, Ktu và Pacoh), Mọi Đá Hàm (Djarai), Mọi Bồ Nông (Mnong) và Bồ Van (Rhadé Epan), Mọi Vị (Raglai) và Mọi Bà Rịa (Mạ)...



Khi xưa có hai vương quốc cổ kêu là Hỏa Xá và Thủy Xá. Hai nước này nhỏ thôi, nằm giáp tỉnh Phú Yên có gốc từ người Chàm.


Thủy Xá (水舍) và Hỏa Xá (火舍) có vua nhưng rất lạc hậu, nó là bộ lạc, không có quân lính, thành quách, họ tự cày lấy mà ăn, tự dệt lấy mà mặc.


Thủy Xá - Hỏa Xá là tên gọi trong sử ký của triều Nguyễn để chỉ tiểu quốc Jrai của người Jrai - Eđê trên cao nguyên Pleiku từ thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 19. Lãnh thổ Thủy Xá (水舍) và Hỏa Xá (火舍).


Khi vua Gia Long lên ngôi, vua hai nước đó có sai sứ đến Phú Yên nạp lễ vật xin cống, vua thết đãi sứ giả rồi cho về. Đời Minh Mạng cũng vậy. Ta hiểu là vùng đất núi rừng này có nhiều bộ tộc, có những bộ tộc rất mạnh như Ede, Bana, Djara vì họ đông.


Nguyễn Nhạc trong thời gian làm biện lại ở khu An Khê đã lên núi rừng Cao Nguyên nhiều lần để buôn trầu, mua gỗ, mua ngựa và bán muối cho họ. Thành ra khi Tây Sơn khởi nghĩa một tộc trưởng Bana đã gả con gái mình là Yă Đố cho ông Nhạc, do Bana mẫu hệ nên bà này giúp ông Nhạc voi ngựa rất nhiều. Sau này ông Nhạc phong bà làm hoàng hậu thứ 3 tên gọi là Cô Hầu.


Như đã nói khi Pháp tấn công Đại Nam 1858 thì lúc đó Xiêm La bành trướng qua Lào và Cam Bốt. Thực tế từ năm 1778 Xiêm đã tấn công các mường Lào. Đến cuối thế kỷ 18 Xiêm đã biến các tiểu quốc Lào lệ thuộc Xiêm hoàn toàn. Nhà Nguyễn chỉ đủ sức giang tay với những xứ Lào dọc theo biên giới Việt Nam. Xiêm sát nhập phần lớn đất đai Lào vào lãnh thổ mình.



Pháp qua, sau khi chiếm Nam Kỳ 1867, đặt sự bảo hộ trên Bắc Kỳ (Tonkin) và Trung Kỳ (Annam) 1884, Pháp liếm qua Lào và Cam Bốt. Tất nhiên va chạm với Anh và Xiêm La, lúc đó Anh đang làm chủ Miến Điện. Xiêm luôn dựa hơi Anh để kềm chế Pháp.


Nhưng ngày 1/5/1896 Anh và Pháp đã ký một hiệp ước về phân chia ảnh hưởng ở Xiêm mà không cho Xiêm tham gia. Theo đó phía tây sông Chao Phraya (Mê Nam) thuộc ảnh hưởng của Anh, phía đông thuộc Pháp, thung lũng sông Mê Nam có thủ đô Bangkok thuộc quyền quản lý của vua Xiêm và được tự chủ.


Hiệp ước London ngày 15/1/1896 còn phân chia sông Cửu Long, đoạn nằm từ biên giới Xiêm La lên đến Trung Hoa làm đường phân chia giữa các khu vực ảnh hưởng của Pháp và Anh. Vua Xiêm La là Rama V Chulalongkorn choáng váng.



Chulalongkorn (20/9/1853 – 23/10/1910) là vị vua thứ năm của Xiêm dưới thời Nhà Chakri, lấy hiệu là Rama V. Ảnh: Apic

Trước đó trung tuần tháng 4/1893 hải quân Pháp phát súng chỉa vô Xiêm, hải quân Pháp phong tỏa Bangkok, Pháp chiếm tỉnh Chantabun của Xiêm. Xiêm ký Hiệp ước Pháp - Xiêm ngày 3/10/1893 trả lại 5 tỉnh của Lào cho Pháp, nhường Lào cho Pháp.


Điều 1 của hiệp ước ngày 3/10/1893 quy định:


“Article 1er: Le Gouvernement Siamois renonce à toute prétention sur l'ensemble des territoires de la rive gauche du Mékong et sur les îles du fleuve” (Triều đình Xiêm từ bỏ tất cả các yêu sách trên tất cả các lãnh thổ của bờ trái sông Mê Kông và trên các đảo của sông).


Tức là Xiêm La sẽ từ bỏ mọi sự xác quyết trên đất đai nằm bên bờ trái của sông Cửu Long từ Lào tới Cao Nguyên (của Việt Nam). Pháp còn thiết lập một khu vực phi quân sự 25 km dọc theo bờ phải sông Mekong ở phía Xiêm, tức người Pháp kiểm soát hoàn toàn con sông này. Tuy nhiên trong hiệp ước này, Xiêm vẫn dựa Anh để cố giữ lại hai tỉnh mà họ đang chiếm của Cam Bốt là Battambang và Angkor (Siem Riep). Hiệp ước Pháp - Cam Bốt 1897 nhìn nhận Pháp bảo hộ Cam Bốt, điều 4 quy định Battambang và Angkor (Nakhon Siemrap) sẽ vẫn thuộc Vương quốc Xiêm. Hai tỉnh này tới 1907 mới được Xiêm trả lại cho Cam Bốt.


Thời gian này Pháp cho nhiều nhà thám hiểm lên Cao Nguyên. Ai cũng biết bác sĩ Yersin (1863 - 1943) đã tìm ra cao nguyên Lang Bian (Đà Lạt) hồi cuối năm 1893 do sự bảo trợ của toàn quyền Doumer.


Alexandre Emile Jean Yersin (22/9/1863 – 1/3/1943) là bác sĩ và nhà vi khuẩn học người Pháp gốc Thụy Sĩ.


Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lang Biang mà người Việt gọi là Lâm Viên cao hơn 1.500 mét so với mực nước biển với khí hậu mát lạnh, trong lành. Năm 1897, bác sĩ Alexandre Yersin đã đề xuất với toàn quyền Paul Doumer chọn cao nguyên Lang Biang để thành lập nơi nghỉ dưỡng trên vùng cao cho nhân viên chánh quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương. Đà Lạt có dân bổn địa là người Lạch:


“Lắng nghe chiều xuống thành phố mộng mơ Màu lam tím Đà Lạt sương phủ mờ Từng đôi đi trên phố vắng Bước chân êm giữa không gian, hoàng hôn thua màn đêm Đứng trên triền dốc nhìn xuống đồi thông Hàng cây thẫm màu đèn lên phố phường Giờ đây hơi sương giá buốt, biết ai thương bước cô liêu Một người đi trong sương rơi.”

Nhưng trước đó có hai người Pháp Néis (1852 - 1907) và Septans (1855 - 1956) đã đến cao nguyên Lang Biang vào năm 1881 rồi. Và người ta còn có tư liệu cho rằng Doanh điền sứ Bình Thuận Nguyễn Thông (1827 - 1884) đã đặt chân tới Đà Lạt từ 1877 rồi. Tức là khi đó Cao nguyên chưa có mặt trên sự quản lý hành chánh của Việt Nam.



Trước bác sĩ Yersin, năm 1888, một người Pháp có tánh thích phiêu lưu cũng là một kẻ cơ hội, thích khám phá, người gốc đảo Corse tên là Marie Charles David de Mayréna đã đặt chân tới Cao nguyên Kontum. Ông Tây này có mặt trong trận chiến 1861 đánh chiếm xứ Nam Kỳ. Sau đó quay về Pháp làm ngân hàng, rồi 1883 bắt đầu đi qua các nước Đông Nam Á du lịch, khám phá và tìm cơ hội bán võ khí. Năm 1885 về Nam Kỳ, chẳng hiểu sao nhập đạo Hồi, cưới thêm hai bà vợ, có một bà tên là Lê Thị Bến. Ông này có quan hệ với các linh mục thuộc Hội Thừa Sai Paris lúc này đang truyền đạo ở Cao nguyên.


Với con mắt “cơ hội”, Mayréna nhìn ra sơ hở của Cao nguyên lúc này gần như vô chủ giữa triều đình Huế và Pháp. Với con mắt nhìn đâu cũng có lợi, ông này đã thuyết phục người Pháp lúc đó cho ông ta lên “thám hiểm” Cao nguyên. Công sứ Qui Nhơn Lemire nhiệt liệt ủng hộ Mayréna và toàn quyền Đông Dương Ernest Constans cũng tán thành.


Ngày 21/4/1888 đoàn thám hiểm lên đường. Cùng đi với Mayréna còn có một người bạn tên Alphonse Mercurol, một thông dịch viên, một đầu bếp, bốn phụ tá người Tàu và 80 phu khuân vác. Mayréna đặt chân đến làng Kon Jari Tul, một làng Bana nơi Cha Jean Baptiste Guerlach quản hạt. Sau đó dừng lại ở làng Kon Trang, địa phận truyền đạo của cha Irigoyen.



Sau khoảng một tháng đoàn dừng lại ở thung lũng sông Đăk Bla vùng Đăk Tô. Nhờ thuốc Tây đem theo, Mayréna chữa bịnh cho người bổn địa nên họ rất quý ông ta. Lúc này các bộ tộc bổn địa hay có xung đột về quyền lợi, người Bana, Rongaos và Sedang. Vừa trị bịnh vừa thuyết phục, vậy mà thành công, các già làng Sedang, Bana, Ronggaos trong khu vực hình thành nên một liên minh do Charles Marie David de Mayréna làm người đứng đầu.


Marie-Charles David de Mayrena (1842-1890), đóng giả là “Vua Marie Đệ Nhứt xứ Sedang”.

Ngày 3/6/1888, Hợp bang Mọi được thành lập. Do lãnh thổ người Sedang lớn nhứt và đóng đô trên đất của Sedang nên ngày 1/7/1888 đổi tên thành “Vương quốc Sedang”. Mayréna làm vua, lấy hiệu là “Marie đệ nhứt, vua của (người) Sedang”. Mayréna phong tù trưởng người Sedang tên Krui làm Tể tướng. Bà Lê Thị Bến được chánh thức tấn phong, trở thành Hoàng hậu. Thủ đô được lập tại làng Kon Gung, tên là “Pelei Agna” (Làng vĩ đại). Nước này có hiến pháp, có quốc kỳ, có nhà dây thép (bưu điện). Quốc kỳ màu xanh da trời, có một cây thập giá màu trắng, ở giữa cây thập giá là một ngôi sao màu đỏ. Tất cả nghi lễ này đều được linh mục Jean Baptiste Guerlach chứng thực. Ngộ ghê! Vua đạo Hồi mà quốc kỳ hình thập tự giá!



Quốc kỳ Sedang.

Thấy vương quốc Sedang ra đời, các cha hội truyền giáo hết hồn, các giáo sĩ dòng Thừa sai Paris cũng tuyên bố thành lập “Liên bang Bana” đối chọi lại. Sau đó Mayréna về Qui Nhơn thuyết phục bán vương quốc này cho Pháp. Pháp không chịu, Mayréna rao bán cho Đức, qua Hong Kong bán cho Anh. Sau đó ông này về lại Pháp trong cảnh nghèo nàn. Trong khi đó Pháp tuyên bố giải tán vương quốc Sedang. Sau đó Mayréna tìm cách quay lại Việt Nam nhưng Pháp không cho nhập cảnh.


Năm 1892, Pháp đặt tòa đại lý hành chánh Kon Tum cho vùng này do giáo sĩ Vialleton (tên Việt: Truyền) phụ trách, trực thuộc tòa công sứ Qui Nhơn. Và Pháp lập tỉnh Plei Ku Der. Người Việt đã di dân lên Kon Tom giữa năm 1894, họ lập đình Lương Khế.



Cha Bề Trên Jules Vialleton.

Nhà Nguyễn cũng quan tâm Cao Nguyên nhưng vẫn dưới quyền Pháp. Năm 1885, vua Đồng Khánh ra chỉ dụ thành lập đạo Kon Tum và cử Tôn Thất Toại làm quản đạo. Tôn Thất Toại lập ra làng Trung Lương Kon Tum. Sau đó quản đạo Võ Chuẩn đã khởi xướng thành lập làng Võ Lâm vào năm 1935. Như vậy Kon Tum có ba làng Việt đầu tiên, Kon Tum là đất Việt khai phá sớm nhứt ở Cao Nguyên.


Hiệp ước Pháp - Xiêm ngày 3/10/1893 ký xong thì năm 1899, tỉnh Stung Treng từ Lào Pháp cắt giao lại cho Cam Bốt. Phần đất bên phải sông prek Dak Dam cắt của Stung Treng chuyển về cho Việt Nam, đó là vùng Darlac. Có hơn 10 năm vùng này như vùng đệm, thực ra chẳng của ai. Ai cũng biết vùng Darlac trước 1904 là xứ trên danh nghĩa thuộc ảnh hưởng của Lào, sau năm 1904 thì Pháp lập Darlac theo nghị định ngày 22/11/1904.



Tới năm 1921 làng Lạc Giao (Ban Mê Thuột) của người Việt được thành lập.


Sau năm 1948 cựu hoàng Bảo Đại lập quốc gia Việt Nam rồi năm 1950 ông lập ra Hoàng Triều Cương Thổ (皇朝疆土) (Domaine de la Couronne).


Hoàng triều (皇朝) là triều đại đang trị vì. Còn Cương thổ (疆土) là vùng đất ở biên giới Hoàng triều cương thổ là toàn bộ vùng đất đai ở Cao nguyên gồm Kon Tum, Gia Lai, Darlac, Đar Nông và Lâm Đồng. Hoàng triều cương thổ thành lập ngày 15/ 4/1950 rồi giải tán ngày 11/3/1955. Tại vùng này thì cựu hoàng Bảo Đại ngoài danh nghĩa Quốc trưởng ra vẫn giữ vai trò Hoàng đế. Hoàng triều cương thổ đóng đô ở Đà Lạt.


Vị trí của Hoàng triều Cương thổ thuộc Quốc gia Việt Nam (được tô vàng).


Vài nét về Ban Mê Thuột


Thành phố khá trẻ, nằm trên đất Cao Nguyên vốn là đất của các sắc dân bổn địa Ê Đê, Gia Rai, Ba Na...


Ban Mê Thuột (Sau 1975 là Buôn Ma Thuột) là địa danh có liên quan tới Ama Thuột. Ama Thuột là cha của Y Thuột. Ông này là một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng, ông là người Êđê Kpă. Tuy nhiên, đến nay, Buôn Ma Thuột đã trải qua gần 112 năm hình thành và phát triển nhưng vẫn chưa tìm thấy tài liệu ghi rõ về tiểu sử của nhân vật Ama Thuột.


Ảnh sưu tầm từ một số nguồn cho rằng đây là hình ảnh của ông Ama Thuột.


Vùng đất của thành phố Ban Mê Thuột sau này vốn là đất dọc theo suối Ea Tam thuộc buôn trung tâm của Ama Thuột cai trị. Tên Ban Mê Thuột là tên của sắc dân Êđê Kpă, còn tên tỉnh Darlac (Sau 1975 là Dak Lak) là của của sắc tộc M'nông. Dak có nghĩa là làng, Lak là hồ nước, người Pháp gọi là Darlac, VNCH tiếp bước ghi trên hành chánh là Darlac.


Đất cao nguyên xưa thuộc nhà Nguyễn song cai quản rất lỏng lẻo. Người Việt gọi xứ này là “Xứ Thượng” và “Người Thượng”. Sử Nguyễn có ghi về hai nước “Hỏa Xá” và “Thủy Xá”, thực ra đất này là bộ lạc rừng rú.


Sau 1859 Pháp xâm lăng Việt Nam thì đất này Lào cai quản, tuy nhiên do kinh đô Lào ở quá xa nên ngày 22/11/1904 quan toàn quyền Đông Dương đã ký nghị định giao Cao Nguyên về cho triều đình Huế, đất này được sáp nhập vào Kontum, thực tế Pháp vẫn cai trị vùng này.



Ngày 22/11/1904, người Pháp thành lập tỉnh Darlac, họ dời tỉnh lỵ từ Buôn Đôn về vùng đất của Ama Thuột và gọi là Ban Mê Thuột. Ban Mê Thuột là thủ phủ của toàn vùng này.


Ngày 30/5/1949, Pháp trao quyền quản lý vùng Cao nguyên Trung phần với Xứ Thượng cho chánh phủ Quốc gia Việt Nam. Quốc trưởng Bảo Đại đã tách riêng phần Cao nguyên ra và lập quy chế hành chính đặc biệt có tên là Hoàng triều Cương thổ.


Người Việt ghi dấu ấn đầu tiên ở Ban Mê Thuột qua hai công trình văn hóa phải kể ra, đó là đình Lạc Giao và chùa sắc tứ Khải Đoan.



Đình Lạc Giao


Đình Lạc Giao tại Thành phố Buôn Mê Thuột. Ảnh: Y Kpia Mlo

Lạc Giao là gì? Là giao lưu, buôn bán vui vẻ với người Thượng. Nghĩa là những người lưu lạc giao tiếp với nhau, tập hợp lại. Lạc là con Lạc cháu Hồng, Giao nghĩa là nơi bang giao Việt - Thượng.


Ngày xưa người Việt hầu như không có héo lánh lên xứ Thượng. Sau năm 1904 có vài người Việt lên đây buôn bán, lúc đó đường xá khó khăn, phải đi voi băng rừng vượt suối rất cực khổ.



Năm 1922, ông Phan Hộ một người buôn bán quê ở Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đã rủ bà con của ông lên vùng đất dọc suối Ea Tam sanh sống và được sự giúp đỡ tận tâm của ông Ama Thuột một xóm người Việt được lập ra lúc đó có tên gọi là “Nam Bang”. Người Việt làm rẫy dọc theo khu rừng già ven suối, bên cạnh một buôn của Ama Thuột.


Năm 1925, làng Lạc Giao mở rộng từ từ ở khu vực rộng lớn ở ngay trung tâm Ban Mê Thuột ngày nay.


Năm 1928, ông Phan Hộ dựng một cái đình Việt bằng tre nứa lá lấy tên là Đình Lạc Giao, năm 1932, ngôi đình được xây dựng lại bằng gạch lợp ngói.


Năm 1932, vua Bảo Đại ra chiếu sắc phong cho Thành hoàng của làng là Đào Duy Từ.



Sắc tứ Khải Đoan Tự


Chùa Sắc tứ Khải Đoan hay còn gọi là Khải Đoan tự tọa lạc tại phường Thống Nhất, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Chùa được xây dựng theo hình chữ “tam” ( 三 ) gồm phía trước cổng tam quan; giữa là chánh điện và phía sau là nhà hậu tổ. Ảnh: Văn Trực

Chùa được xây bắt đầu từ năm 1951 do ý tưởng của bà Từ Cung tức Đoan Huy Hoàng Thái Hậu Hoàng Thị Cúc là mẹ của vua Bảo Đại khi đó đang sống ở “Hoàng triều cương thổ”. Bà thái hậu mộ đạo Phật mà ở Cao Nguyên không có chùa thành ra bà xây một ngôi chùa gỗ kiểu Huế rất đẹp ở Ban Mê Thuột. Sau đó vua Bảo Đại ra sắc tứ (Ban sắc) cho chùa. Đây là ngôi chùa Việt đầu tiên ở Tây Nguyên, là chùa sắc tứ, chùa hoàng gia cuối cùng của vua Nguyễn. Khải Đoan là ghép thụy hiệu giữa Khải Định đế và Đoan Huy hoàng thái hậu mà ra.



Những dấu vết bổn địa trong địa danh ở Cao Nguyên


Văn minh và ngôn ngữ của các sắc tộc bổn địa Cao Nguyên có dính líu chung với người Chàm. Dân Chàm kêu làng là Palei. Palei là làng Chàm, mỗi làng có 80 đến 500 hộ dân. Người Chàm quan niệm ma quỷ, thần linh hay ở trên cây nên các palei Chàm thường trơ trụi, không có cây cỏ gì trước sân nhà.


Nguyên tắc lập một Palei Chàm là: “Cek paraong, kraong birak; glaong gah pai, biér gah pur, aya nduec gah ésan” (Núi phía Nam, sông phía Bắc, cao phía Tây, thấp phía Đông, nước chảy về hướng Đông Bắc). Palei có cổng chánh môn ngoái nhìn về phía Nam, cổng phụ về phía Bắc.


Người Chàm gốc dân đảo từ Java di cư qua Trung Kỳ lập quốc từ xưa. Ngôn ngữ Chàm dính líu và gần với các dân tộc Raglai, Churu, Jarai, Êđê vì có bà con, thành ra các tộc này đều có Polei (Làng).



Pleiku là thành phố cao nguyên của tỉnh Gia Lai suốt năm mù mù vì sương.


“Em sinh ra trên vùng đỏ sương mù tên gọi là Pleiku.”

Pleiku là tiếng dân tộc, bổn địa xứ này là người Gia Rai vì tên dân tộc bổn địa ở đây là Jrai. Nên viết tỉnh Gia Lai là không trúng. Pleiku có nghĩa là Làng Đuôi. Plei (tiếng Jrai là plơi) là làng, Ku theo nhiều người là cái đuôi. Thực ra chưa rõ nghĩa lắm. Đúng ra phải là Ploi Ku trúng hơn Pleiku. Những làng Jarai ngoài Plei Ku, Plei Me còn có Plei Mor, Plei Sar, Plei Klêng, Plei Chôt, Plei Reh, Plei Tang, Plei Sả, Plei Kenh, Plei Lung Leng, Plei Hơ Mrong,…


Qua dân Bana thì làng là Kon. Thí dụ Kon Tum là làng hồ, ám chỉ bảy cái hồ thiêng ở xứ này. Bảy hồ nước đó là: Toong Ly Leng, Toong Ziu, Toong Zơ Ri, Toong Săng, Toong Pô, Toong Đam và Đak Ke.



Kon Tum gồm hai làng Kon Tum Kơpâng (Làng Hồ Thượng) và Kon Tum Kơnâm (Làng Hồ Hạ).


Dân Bana cũng bị ảnh hưởng Chàm và Jrai khi họ có Plei Don, Plei Groi.


Người M'Nông kêu làng là Đăk, có tỉnh Darlac (Dak Lak ) là nó.


Biển Hồ T’nưng là hồ đẹp nhất Tây Nguyên.


Kết luận


Trong quá trình sanh sống đã có nhiều địa danh Thượng biến thành tên Việt. Thí dụ Djiring thành Di Linh, Blao thành Bảo Lộc, Fian thành Đức Trọng, Dran thành Đơn Dương.


Thời Việt Nam Cộng Hòa đã có nhiều chính sách giúp đồng bào sắc tộc Cao Nguyên tiến tới sống vệ sinh, văn minh, hiện đại. Hiến pháp VNCH năm 1967 ghi rõ:


“Quốc gia tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào thiểu số và có một đạo luật sẽ quy định những quyền lợi đặc biệt để nâng đỡ đồng bào thiểu số.”


Những sắc tộc ở Cao Nguyên như Banar, J'rai, Rhade, K`hor, Mạ, X`Dang, Mơ`Nong, Lạch... là một trong 54 nhóm chủng tộc bất khả phân của dân tộc Việt Nam.


Ngày 10/3/1975, Ban Mê Thuột và Cao Nguyên được “giải phóng”. Tức là trước Sài Gòn và miền Nam gần hai tháng.



Tác giả: Nguyễn Gia Việt

Comments


bottom of page