top of page
​AD

Những Chiến Binh Người Tày - Nùng

Trong 34 chiến sĩ đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam thì có đến 19 chiến sĩ dân tộc Tày, 9 chiến sĩ dân tộc Nùng.


Niên hiệu Hàm Thông thứ 7 (866), hoàng đế Đường Ý Tông thuận thỉnh tấu của quan kinh lược Cao Biền mà nâng An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh Hải quân. Nhờ công dẹp loạn Nam Chiếu, đại thần Cao Biền được trọng nhậm tiết độ sứ, tùy nghi hành sự tại đất Lĩnh Nam.

Quân (軍) là cấp hành chính địa phương cao nhất thời Đường, thể hiện tính xung yếu và cần được quan phòng mức cao. Nhưng thực tế, thời kỳ này Đường triều chỉ đủ khả năng Kimi. Một đại châu Kimi ở cực nam của đế chế do những quý tộc gốc Hán nói tiếng An Nam tự chủ và họ dần toan tính để thoát khỏi sự cương toả của phương Bắc. Cuối cùng mở ra cục diện thiên ngoại hữu thiên.


Lãnh thổ Tĩnh Hải quân bao gồm bắc bộ và bắc trung bộ thuộc Việt Nam ngày nay, hay An Nam. Cùng với phần lớn Quảng Tây và một phần nhỏ Vân Nam thuộc Trung Quốc ngày nay. Khi đó phần thuộc Trung Quốc, trái với phần thuộc Việt Nam, có ít sự Hán Hoá. Quảng Tây núi rừng là đất của Lý - Lão hay Choáng - Tráng/ Tày - Nùng bây giờ. Những người mà triều đình Trung Hoa khi đó có lẽ chưa từng thực sự kiểm soát được. Họ hay nổi loạn và làm tắc nghẽn con đường bộ đến An Nam.

Có lần nhà Đường đánh dẹp cuộc nổi dậy quy mô lớn tại Quảng Tây, chém đầu hàng chục nghìn người. Đã dẫn đến sự bỏ chạy của 1 bộ phận Lý - Lão về phía Tây vào Nam Chiếu và sau này thành lập trung tâm mới gọi là 12 khoảng ruộng Tây Song Bản Nạp. Khi Mông Cổ diệt Nam Chiếu thì một lần nữa những người này lại chạy về phương nam, hình thành nên các quốc gia Lào, Thái Lan và bang Shan, Myanmar bây giờ.

Vậy Quảng Tây từ Tĩnh Hải Quân tự chủ bị nhập về phương Bắc khi nào?


Có thể là sau chiến thắng Bạch Đằng 938 thì Quảng Tây đã bị Nam Hán kiểm soát. Người An Nam Hán hoá có lẽ cũng không mặn mà với vùng đồi núi của thổ nhân khó cai trị này cho đến tận khi các mỏ vàng bị phát lộ.

Cũng có thể là sau loạn 12 sứ quân, thì Đinh Bộ Lĩnh cũng không mặn mà với việc thu hồi Quảng Tây. Ông ta có lẽ chỉ muốn thống nhất các vùng Hán hoá ở đồng bằng và trung du vịnh Bắc Bộ kiểm soát các vùng giáp ranh xung quanh của thổ nhân theo dạng châu Kimi.

Vùng miền núi phía Bắc nói chung và sắc dân Choang - Tráng / Tày - Nùng nói riêng chưa bao giờ là dễ thu phục. Sau này khi Trần tộc nắm quyền ở An Nam, họ cũng phải cử nhà ngoại ngữ và dân tộc học kiêm ngoại giao là Trần Nhật Duật đi làm công tác dân vận các chúa đạo miền ngược. Trước đó vào thời Lý thì Nùng Trí Cao đã chống lại cả Đại Tống và Đại Việt, 2 thế lực đều tuyên bố chủ quyền với châu Quảng Nguyên.


Tướng Nùng Tôn Đản và quân đội của ông ta là 1 thành phần quan trọng trong đội quân nhà Lý viễn chinh vào đất Trung Hoa dưới sự chỉ huy của thái uý Lý Thượng Cát.

Các Chúa Bầu cũng như nhà Mạc đã dựa vào đất của người Tày - Nùng mà cát cứ trong một thời gian dài.

Nguyễn trào sau khi thành lập với các chính sách coi Việt nhân là Hán nhân, gọi người Trung Hoa là Thanh nhân, phận biệt đối xử các sắc dân thiểu số đã dẫn tới cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân.

Thời chiến tranh Pháp - Thanh tại Bắc Kỳ, khi quân Pháp tiến vào Quảng Tây cũng gặp phải sự kháng cự ngoan cố của Choang - Tráng. Quân Cờ Đen, Cờ Trắng, Cờ Vàng có lẽ cũng có được sự hợp tác của người Choang - Tráng.


Thế giới thường nhắc đến sự dũng cảm thiện chiến không biết sợ của lính đánh thuê Gurkha trong biên chế quân đội Anh, quân đội Ấn. Hay gần đây khi chiến tranh Tiểu Nga - Nga La Tư nổ ra, thế giới lại lan truyền những hình ảnh về các chiến binh Chechen người Chechnya. Ví họ như là IS phiên bản quân đội chính quy. Những chiến binh liều mạng, máu lạnh với kẻ thù, rất ít khi bắt tù binh.


Tuy vậy ít ai biết rằng trong chiến tranh Đông Dương lần 1 hay Kháng chiến chống Pháp, có một đội quân sư đoàn người Nùng chiến đấu bên phe Pháp. Những lính Nùng này cực kỳ thiện chiến và hung dữ, ngang ngạnh.


Sang đến chiến tranh Đông Dương lần 2 hay Kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Sư đoàn lính Nùng này di cư vào nam và vẫn nổi tiếng về độ thiện chiến, máu lạnh. Ngoài chỉ huy trực tiếp, họ không hề thần phục bất cứ ai, kể cả tổng thống. Khi nổi nóng, họ có thể cắt tai luôn cả một vị tướng nếu ông ta là người khiêu khích. Chính điều này làm Ngô Đình Diệm sợ dù ông cũng rất cần họ, nên đã xé lẻ Sư đoàn ra.


Khi Lê Thái Tổ dấy binh ở vùng miền núi phía tây Thanh - Nghệ, có lẽ ông ta đã có được sự ủng hộ của các sắc dân Thái - Mường. Sau này Thái Tổ thành đại công nghiệp Bình Ngô.

Khi phong trào Tây Sơn nổi lên, đã có nhiều chiến binh người Thượng Tây Nguyên gia nhập đoàn quân tại Tây Sơn thượng đạo. Sau này nhà Tây Sơn lập nên đại võ công nam đuổi Xiêm La, bắc phá Mãn Thanh.

Khi Hồ Chí Minh về nước năm 1941 đã gây dựng chiến khu Việt Bắc, còn được gọi là Khu giải phóng Việt Bắc, là căn cứ địa lớn nhất của cách mạng Việt Nam thời kỳ cao trào kháng Nhật, cứu nước và chuẩn bị Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 (Cách mạng Tháng Tám).



Chiến khu Việt Bắc là địa bàn sinh sống của người Tày Nùng. Trong 34 chiến sĩ đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam thì có đến 19 chiến sĩ dân tộc Tày, 9 chiến sĩ dân tộc Nùng.

Có rất nhiều cán bộ chiến sĩ người Nùng phục vụ và chiến đấu trong quân đội nhân Việt Nam qua các thời kỳ. Nhiều người trong số họ đã chiến đấu dũng cảm anh dũng, được nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý. Sự thật là ngày nay, có một bộ phận người Kinh có tâm lý e ngại, trốn tránh khi con em hay bản thân phải đi nghĩa vụ quân sự. Nhưng với người Tày - Nùng ở các huyện như huyện Bình Liêu thì đã gọi đi khám tuyển là phải nhận con em họ đi, không thì họ sẽ kéo cả họ lên Ủy ban. Đơn giản là vì ở đó, nếu không được đi lính khi gọi nghĩa vụ, thì sẽ khó mà lấy được vợ.



Tác giả: Nguyễn Quang Đạt
bottom of page