top of page
​AD

Tại Sao Ngày 4 Tháng 7 Để Kỷ Niệm Ngày Độc Lập Hoa Kỳ Là Không Chính Xác

Mặc dù người Mỹ từ lâu đã kỷ niệm Ngày Độc lập vào ngày 4 tháng 7, đó không phải là ngày các thuộc địa bỏ phiếu để trở thành một quốc gia mới.

Ảnh: Getty

Tại Hoa Kỳ, Ngày Độc Lập, còn gọi là 4 tháng 7 (Fourth of July), là một ngày lễ liên bang để kỷ niệm Tuyên ngôn Độc lập được ký năm 1776.


Ngày lễ này thường được đi kèm với những cuộc diễu hành, các sự kiện thể thao, trò chơi, liên hoan ngoài trời, và nhiều buổi lễ công cộng. Từ năm 1777, pháo hoa đã được đốt để đón mừng ngày lễ như một phần trong truyền thống ngày 4/7 của Hoa Kỳ.



Ngày Độc lập được chào đón với những biểu hiện yêu nước. Nhiều nhà chính trị thường đọc diễn văn ca ngợi các di sản và người dân của Hoa Kỳ. Các Hội đoàn, đại diện các sắc dân, các trường học, tổ chức diễu hành.


Các gia đình thường làm cuộc liên hoan ngoài trời, thường tụ họp với những người thân và hàng xóm, giống kiểu giao thừa khu phố ở ta. Các cuộc diễu hành được diễn ra sáng ngày 4, buổi tối thường có pháo hoa và hòa nhạc. Cờ quốc gia và cờ của các bang được treo khắp nơi.


Tranh thủ ngày lễ, các nhóm hoạt động về xã hội, vận động tranh cử cũng treo băng roll, biểu ngữ quảng bá công việc của mình.



Vậy làm thế nào mà ngày 4/7 được coi là ngày Lễ Độc lập của Hoa Kỳ?


Trong cuộc chiến tranh giành độc lập, những người thuộc địa ở vùng Tân Anh (New England) đã chiến đấu với quân Anh từ tháng 4/1775. Kiến nghị đầu tiên trong Quốc hội để giành độc lập được đưa ra trong ngày 8/6/1776, được giới thiệu bởi Richard Henry Lee, một đại biểu đến từ Virginia, và tự gọi mình là “Các thuộc địa thống nhất” (The United Colonies).


“Đã quyết, rằng các Thuộc địa Thống nhất này là, và có quyền phải là, các Quốc gia tự do và độc lập, rằng họ được miễn trừ mọi sự trung thành với Vương quốc Anh, và rằng tất cả các mối liên hệ chính trị giữa họ và Nhà nước Vương quốc Anh là, và phải được, hoàn toàn tan biến.” - Richard Henry Lee


Sau khi có nhiều bàn cãi, Hội nghị đã bí mật đồng thuận đòi độc lập từ Đế quốc Anh trong ngày 2/7. Khi nghị quyết được thông qua, John Adams, một trong những nhà lãnh đạo của Cách mạng Hoa Kỳ, đã tin chắc rằng ngày 2/7 sẽ đi vào lịch sử như một ngày kỷ niệm nên ông đã viết bức thư sôi nổi này cho vợ mình là Abigail vào ngày 3/7.


“Kỷ nguyên đáng nhớ nhất, trong Lịch sử nước Mỹ. Tôi có xu hướng tin rằng nó sẽ được các Thế hệ kế tiếp tổ chức như một Lễ hội kỷ niệm trọng đại… Nó phải được tổ chức long trọng với Lễ diễu hành và Lễ diễu hành với áo choàng, Trò chơi, Thể thao, Súng, Chuông, Lửa trại và Chiếu sáng từ một đầu của lục địa này đến lục địa khác từ nay trở đi mãi mãi hơn nữa.” - John Adams

Hội nghị sau đó sửa đổi văn bản tuyên ngôn được soạn thảo bởi Thomas Jefferson, một luật sư nổi tiếng và là chủ đồn điền Virginia, sau này trở thành Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ.



Cho đến 11 giờ ngày 4/7/1776, khi 13 thuộc địa chấp nhận và đưa ra một phiên bản chưa ký cho một thợ in tên là John Dunlap, người này đã in khoảng 200 bản sao của nó, với tên của John Hancock được in ở dưới cùng. Chỉ có 26 bản sao của bản in gốc đó vẫn còn với chúng ta ngày nay.


Bản sao Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ đóng khung được in bởi Patriot Gear Company.

Philadelphia đón mừng Tuyên ngôn bằng cách đọc tài liệu chính thức nhằm thông báo sự kiện này với thế giới và đốt lửa mừng với công chúng trong ngày 8/7/1776.



Hầu hết các thành viên của Quốc hội Lục địa đã ký vào một bản Tuyên bố vào ngày 2/8/1776 và được giữ bí mật để khỏi bị quân Anh trả đũa.


New York bỏ phiếu trắng trong cả hai cuộc. Đại hội tỉnh New York chính thức ủng hộ nền độc lập một tuần sau đó.


Bức tranh nổi tiếng của John Trumbull cho thấy mọi người đã ký vào bản Tuyên ngôn vào ngày 4/7 là một phiên bản không chính xác của lịch sử.



Tranh sơn dầu ‘Tuyên ngôn Độc lập’ của John Trumbull tại Tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ Rotunda, Washington, D.C., năm 1818, treo trong khu Rotunda của Điện Capitol.

Vậy Ngày Độc lập thuộc về ngày 2/7/1776, đó không chỉ là ngày Quốc hội Lục địa lần thứ hai thông qua nghị quyết tuyên bố độc lập khỏi Anh mà còn là ngày mà Tổng thống tương lai Hoa Kỳ John Adams đã viết sẽ được “các thế hệ kế tiếp tổ chức như một ngày lễ hội kỷ niệm trọng đại” với “sự hào hoa và diễu hành, trò chơi, thể thao, súng, chuông, lửa trại và ánh sáng từ đầu này đến đầu kia của lục địa”.


Những sự thật thú vị về ngày 4 tháng 7


  • Khi Tuyên ngôn Độc lập được ký kết, có 2,5 triệu người đang sống trong quốc gia mới được tự do, bằng khoảng dân số của Houston bây giờ. Vào năm 2019, Hoa Kỳ có dân số khoảng 328 triệu người.


  • Phương châm của Hoa Kỳ “E pluribus unum”, tiếng Latin có nghĩa là “Trong số nhiều người, chỉ có một”, được đề xuất bởi ủy ban những người lập quốc vào ngày 4/7/1776.

  • Hơn 300 triệu đô la pháo hoa được nhập khẩu vào Hoa Kỳ hàng năm.

  • 60% của tất cả các thương tích do pháo hoa xảy ra trong tháng 7.


  • Thomas Jefferson đã thiết kế bàn viết di động của riêng mình để viết Tuyên ngôn Độc lập. Ông đã sử dụng nó trong suốt phần đời còn lại của mình cho đến khi tặng nó cho cháu gái của mình vào năm 1825.

  • Hai người trẻ nhất ký Tuyên ngôn Độc lập là Thomas Lynch Jr. và Edward Rutledge, cả hai đều 26 tuổi và đều đến từ South Carolina. Người cao tuổi nhất là Benjamin Franklin, 70 tuổi.

  • Người Mỹ ăn 155 triệu chiếc xúc xích vào ngày 4/7.


  • Ba tổng thống qua đời vào ngày 4/7 là John Adams và Thomas Jefferson, và James Monroe. Adams và Jefferson qua đời vào cùng một ngày — ngày 4/7/1826, ngày kỷ niệm 50 năm Tuyên ngôn Độc lập.