top of page
​AD

Thảm Sát Mỹ Lai: Những Lính Mỹ Đó Giờ Ra Sao?

Câu chuyện về bi kịch thảm sát dân thường lớn nhất của Quân đội Hoa Kỳ được công khai trong thế kỷ 20.

Bên trái: William Calley, người chịu trách nhiệm về vụ thảm sát tại Mỹ Lai, tại Câu lạc bộ Kiwanis ở Columbus, Georgia, năm 2009, nơi ông ta lần đầu tiên công khai nói về Mỹ Lai; bên phải: Calley tại phiên điều trần trước khi xét xử ở Fort Benning năm 1970. Ảnh tổng hợp: Bình Đặng

Sự kiện thảm sát Mỹ Lai trong Chiến tranh Việt Nam do khoảng 100 lính Mỹ sát hại khoảng 350 đến 504 thường dân không có vũ khí bao gồm đàn ông, phụ nữ, trẻ em và trẻ sơ sinh vào ngày 16/3/1968 ở huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.


Một số phụ nữ bị hãm hiếp tập thể và cơ thể của họ bị cắt xẻo, một số binh lính còn cưỡng hiếp trẻ em mới 12 tuổi.



26 binh sĩ Mỹ bị buộc tội hình sự nhưng chỉ có Trung úy William Calley Jr., trung đội trưởng của Đại đội C bị kết tội giết 22 dân làng. Ban đầu ông ta bị kết án chung thân nhưng sau đó Tổng thống Mỹ Richard Nixon miễn án và chỉ bị quản thúc tại gia 3 năm rưỡi.


Vụ thảm sát đã gây ra sự phẫn nộ trên toàn thế giới khi được công bố vào tháng 11/1969, góp phần tạo ra sự phản đối trong nước Mỹ đối với việc Hoa Kỳ can dự vào Chiến tranh Việt Nam, cả vì quy mô giết chóc và các nỗ lực nhằm che đậy.


Trung uý William Laws Calley Jr.



William Calley chỉ huy một trong ba trung đội của Đại đội Charlie và chịu trách nhiệm về vụ thảm sát tại Mỹ Lai, là lính Mỹ duy nhất bị kết tội. Ban đầu, ông ta bị kết án tù chung thân nhưng chỉ thụ án được 3 ngày vì Tổng thống Richard Nixon đã ra lệnh giảm án cho ông ta. Sau 3 năm bị quản thúc tại gia, ông ta kết hôn và làm việc tại cửa hàng trang sức của bố vợ. Calley, 80 tuổi, hiện đang sống ở thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia.


Năm 2009, ông Calley đưa ra lời xin lỗi ngắn gọn trong một buổi nói chuyện tại cuộc họp của Câu lạc bộ Kiwanis ở Columbus, tiểu bang Georgia.


“Không một ngày nào trôi qua mà tôi không cảm thấy hối hận về những gì đã xảy ra ở Mỹ Lai ngày hôm đó,” ông ta nói về Mỹ Lai công khai lần đầu tiên. “Tôi cảm thấy thương tiếc cho những người Việt Nam đã thiệt mạng, cho gia đình của họ, cho những người lính Mỹ có liên quan và gia đình của họ. Tôi rất xin lỗi."


Năm 2018, Smithsonian đề nghị William Calley cơ hội đến Việt Nam để xin lỗi các nạn nhân đã chết và còn sống cùng gia đình họ, ăn năn, thừa nhận và cầu nguyện trước các linh hồn, nhưng ông đã từ chối.



Đại tá Oran Kenneth Henderson



Vụ thảm sát Mỹ Lai xảy ra vào ngày đầu tiên của Oran Henderson với tư cách là chỉ huy lữ đoàn, sự nghiệp đã đưa ông ta tham gia ba cuộc chiến và mang về bốn Huy chương Trái tim Tím, năm Huy chương Đồng và năm Huy chương Ngôi sao Bạc.


Sau cuộc điều tra sơ bộ về Mỹ Lai, ông Henderson báo cáo rằng 20 thường dân Việt Nam đã vô tình thiệt mạng trong các cuộc pháo kích hoặc bị trúng đạn lạc. Ông Henderson bị đưa ra tòa án binh vì tội lơ là nhiệm vụ, sĩ quan cấp cao nhất bị xét xử. Ông được tha bổng vào năm 1971.


Ông nghỉ hưu với quân hàm đại tá vào năm 1974 và ba năm sau trở thành giám đốc phòng dân sự của bang Pennsylvania. Ông qua đời năm 1998 ở tuổi 77 vì bệnh ung thư tuyến tụy.



Trung tướng William Ray Peers



Trung tướng William Peers và hai luật sư dân sự trợ lý của ông từ New York được chọn để đứng đầu cuộc điều chất vấn khoảng 400 nhân chứng, trong đó có 50 người ở Việt Nam, để đưa ra bản báo cáo liên quan đến hàng chục binh sĩ Mỹ và các cấp lãnh đạo trong vụ thảm sát Mỹ Lai.


William Peers là lính Mũ nồi xanh và lực lượng đặc biệt đã tiến hành các hoạt động phản gián bí mật trong Chiến tranh Triều Tiên được vinh danh trong Thế chiến thứ hai, đồng thời là Giám đốc Văn phòng Lực lượng Dự bị, nổi tiếng là khách quan và công bằng, từng phục vụ tại Việt Nam với tư cách là Tư lệnh Sư đoàn Bộ binh 4 và Tư lệnh Lực lượng dã chiến I.


Ông Peers biết rằng nhiệm vụ này sẽ khiến ông bị phỉ báng vì làm xấu hình ảnh của Quân đội Mỹ.


“Ông làm việc này cho tôi, và tôi đảm bảo rằng ông sẽ có được ngôi sao thứ tư đó,” Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ William Westmoreland nói với ông Peers, theo lời kể của Christina Peers Neely, con gái của ông Peers.


Tuy nhiên, sau đó ông Peers lại được giao nhiệm vụ phó chỉ huy phục vụ dưới quyền một vị tướng bốn sao tại Hàn Quốc.


Quân đội nghĩ rằng Trung tướng Peers là một người “gọi dạ bảo vâng” nhưng khi ông Peers công bố báo cáo cuối cùng thì họ mới phát hiện ra rằng ông không phải là người như vậy. Báo cáo của ông ấy khá chính xác về những gì xảy ra ở Mỹ Lai ngày hôm đó.


“Ông ấy đã làm xấu hình ảnh của Quân đội Hoa Kỳ. Ông ta bị trừng phạt còn những kẻ giết người thì không,” Christina Neely nói. “Ông ấy kinh hoàng vì điều đó.”


William Peers qua đời vì cơn đau tim vào năm 1984 ở tuổi 69.



Chuẩn uý Hugh Clowers Thompson Jr.



Hugh Thompson Jr., sĩ quan quân đội 25 tuổi và phi công trực thăng đến từ tiểu bang Georgia đã mạo hiểm mọi thứ, kể cả mạng sống của mình, để ngăn chặn lính Mỹ tàn sát thường dân Việt Nam.


Ông Thompson cùng phi hành đoàn hai người của mình bay qua Mỹ Lai trên một chiếc trực thăng quan sát, đã liên tục hạ cánh để đối đầu với các sĩ quan cấp trên và những người lính khác tham gia vụ thảm sát. Ông ấy đã nhiều lần cảnh báo qua vô tuyến và một lần nữa khi ông ấy trở lại trại căn cứ.


Trong nhiều năm, hành động anh dũng của ông Thompson đã khiến ông ấy bị đồng đội coi thường, thù ghét, xa lánh, thậm chí bị Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Hạ viện Hoa Kỳ Mendel Rivers tố cáo là kẻ phản bội.


“Nó làm tan nát trái tim của Hugh,” Lawrence Colburn, xạ thủ trực thăng của ông nhớ lại. “Nhưng nó không phá vỡ ý chí của ông ấy.”


“Trong suốt hai năm điều trần về vụ Mỹ Lai, Thompson đã nói lên sự thật bất chấp áp lực của đồng đội tẩy chay, các mối đe dọa truy tố và sự chỉ trích của Quốc hội được truyền hình toàn quốc,” theo William Eckhardt, công tố viên trưởng của Lục quân Hoa Kỳ.


Ông Thompson tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ quan sát ở Việt Nam, bất chấp những nghi ngờ rằng những nhiệm vụ này được giao để cố ý giết ông ta. Ông ấy đã bị trúng đạn của địch tổng cộng tám lần và trong lần va chạm cuối cùng sau khi máy bay trực thăng của ông ấy bị bắn hạ bởi hỏa lực súng máy của địch, ông ấy đã bị gãy lưng.


Năm 1998, Quân đội Hoa Kỳ đã trao tặng Huân chương Chiến sĩ cho Hugh Thompson và phi hành đoàn của ông trong một buổi lễ gần Đài tưởng niệm Việt Nam.


Đúng 30 năm sau vụ thảm sát Mỹ Lai, Hugh Thompson và Lawrence Colburn trở lại Việt Nam để gặp một số người được họ cứu sống năm xưa.


Hugh Thompson qua đời vì bệnh ung thư ở tuổi 62 vào năm 2006.



Quân nhân chuyên nghiệp Lawrence Manley Colburn



Lawrence Colburn, xạ thủ trực thăng 18 tuổi, người đã giúp giải cứu hàng chục người khỏi vụ thảm sát Mỹ Lai, tham gia vào một cuộc đối đầu căng thẳng với các đồng đội chuẩn bị tàn sát một nhóm dân thường trốn trong một boong-ke.


Khi phi công Hugh Thompson từ trên không phát thanh yêu cầu sơ tán thường dân ra ngoài, ông Colburn và Glenn Andreotta chĩa súng về phía quân bất hảo, sẵn sàng bắn vào lính Mỹ nếu họ bắn vào ông Thompson hoặc dân thường.


Ông Colburn nói rằng lúc đó ông ấy không chắc chắn liệu mình có bị đuổi khỏi quân đội hay không.


“Đó luôn là câu hỏi 64.000 đô la,” ông ấy nói trong một cuộc phỏng vấn năm 2016. “Nếu tôi đã biết những gì tôi biết bây giờ… khoảng 125 trẻ em dưới 5 tuổi đã bị giết. Nếu tôi biết điều đó, thì vâng, tôi đã nổ súng rồi.”


Ông Colburn đã làm chứng trong các phiên điều trần và trong các phiên tòa quân sự vụ án Thảm sát Mỹ Lai, mà theo ông, đó chỉ là “việc che đậy”. Ông ấy quay trở lại Georgia sau khi rời quân đội và mở một công việc kinh doanh nhỏ.


Nhưng Mỹ Lai đã ám ảnh ông.


“Nó đã lấy đi một phần lớn cuộc sống của chúng tôi,” ông Colburn nói. “Chúng tôi cảm thấy thật tồi tệ khi không can thiệp sớm hơn, rằng chúng tôi không thể làm gì hơn. Chúng tôi đã hoàn toàn loại bỏ từ ‘anh hùng’ ra khỏi vốn từ vựng của mình.”